[Loạt Megastory] Dưới lá cờ Tổ quốc: Chiến khu Đ: 'Tọa độ đỏ' dưới lá cờ giải phóng (Kỳ 1)

Chiến khu Đ - căn cứ địa quan trọng của chiến trường Đông Nam Bộ trong 2 cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tròn 80 năm từ ngày ra đời và chiến tranh đã lùi xa hơn 50 năm, danh từ “Chiến khu Đ” vẫn đi vào lòng cán bộ, chiến sĩ, đồng bào chiến khu năm xưa và với cả những người chưa từng một lần đặt chân tới. Chiến khu Đ không đơn thuần mang ý nghĩa một địa danh, mà còn là biểu tượng của vùng đất Đồng Nai cách mạng, của miền Đông gian lao mà anh dũng, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Chiến khu Đ cũng là vùng đất sôi động, trù phú, với nông lâm trường bạt ngàn, nhà máy và công trình lớn… Sau ngày đất nước thống nhất và hiện nay đang xây dựng thành phố văn minh và hiện đại, hàng vạn đồng bào từ khắp mọi miền đất nước tiếp tục tụ hội về bồi đắp hào khí Chiến khu Đ trở thành động lực to lớn cho Đồng Nai vươn mình phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1945, Xứ ủy Nam kỳ cử một số cán bộ về Tân Uyên chọn địa điểm làm tiền trạm xây dựng căn cứ ở ngoại vi Sài Gòn nhằm làm nơi để máy móc in ấn sách báo truyền đơn, cất chứa vũ khí, huấn luyện cán bộ và các đơn vị vũ trang, bồi dưỡng chính trị cho các đồng chí vượt ngục đang bị địch truy nã, tuyên truyền mở rộng thế và lực cách mạng. Công việc xây dựng căn cứ bắt đầu được triển khai như xây cất lán trại, chòi, kho, tập kết máy móc, tích trữ lương thực. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Công việc xây dựng căn cứ đang tiến hành thì được lệnh dừng lại. Các cán bộ chỉ đạo xây dựng căn cứ rút về Sài Gòn nhận nhiệm vụ theo yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới.(1)

Đây là nền móng đầu tiên đặt dấu ấn cho sự ra đời của một Chiến khu Đ, sau này trở thành nỗi kinh hoàng với kẻ thù trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: “Chiến khu Đ còn - Sài Gòn mất”.

Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi nhận tin thắng lợi ở Hà Nội truyền về, tại Biên Hòa, Tân Uyên - nơi được lựa chọn xây dựng căn cứ, quân và dân địa phương như được tiếp thêm sức mạnh. Ngày 23-8-1945, tại căn nhà số 2 ở dãy phố Sáu Sử, xã Bình Trước, quận Châu Thành, Biên Hòa, đồng chí Hoàng Minh Châu chủ trì cuộc họp bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh lỵ Biên Hòa. Tham dự cuộc họp có các đồng chí Hoàng Minh Châu, Huỳnh Văn Hớn, Phạm Văn Búng, Ngô Hà Thành, Hồ Văn Giàu, Lê Nguyên Đạt, Đặng Nguyên, Hồ Hòa, Hồ Văn Đại...

Sáng 23-8-1945, dưới sự chỉ đạo của chi bộ nhà máy cưa BIF, chi bộ ga Biên Hòa, công nhân và nhân dân các ấp Tân Mai, Lân Thành, Vĩnh Thị đã nổi dậy làm chủ các cơ sở trên, đồng thời tập hợp lực lượng xung kích để làm nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa ở tỉnh lỵ Biên Hòa.

Đêm 23 và rạng sáng 24-8-1945, trong nội ô tỉnh lỵ Biên Hòa, nhân dân treo cờ và dán khẩu hiệu khắp các phố chợ.

Đêm 24-8-1945, tại rạp hát Trần Điển, một cuộc mít tinh được tổ chức với hàng trăm quần chúng tham gia. Các đồng chí trong Ủy ban khởi nghĩa đã công khai diễn thuyết, kêu gọi đồng bào tham gia Mặt trận Việt Minh tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền.

Suốt đêm 24-8-1945, lực lượng thanh niên xung kích rầm rập đi tuần tra trên các đường phố. Nội ô tỉnh lỵ Biên Hòa và các xã vùng ven như Tam Hiệp, Tân Mai, Tân Phong, Bửu Long, Bửu Hòa, Hiệp Hòa, Hóa An, Tân Hạnh, lực lượng cách mạng hoàn toàn làm chủ.

Ngày 25-8-1945, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa từ Sài Gòn nhanh chóng được truyền về Biên Hòa làm nức lòng cán bộ và nhân dân trong toàn tỉnh. Hầu hết các cơ quan, công sở ở tỉnh lỵ Biên Hòa đều được lực lượng xung kích bố trí tổ chức canh gác, bảo vệ chặt chẽ.

Ngày 26-8-1945, đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa tập hợp hàng trăm quần chúng tiến vào Tòa bố Biên Hòa (Dinh tỉnh trưởng) treo cờ đỏ sao vàng trước sự tập trung của đồng bào. Đến 11 giờ trưa cùng ngày, các đồng chí Hoàng Minh Châu, Huỳnh Văn Hớn và một số đồng chí trong Ủy ban khởi nghĩa tiếp tục đến Tòa bố buộc tỉnh trưởng Nguyễn Văn Quý cùng viên chức đứng đầu các công sở trong tỉnh bàn giao chính quyền cho cách mạng. Lực lượng xung kích cách mạng nhanh chóng chiếm lĩnh, tiếp quản các cơ quan, công sở còn lại ở tỉnh lỵ Biên Hòa”.(2)

Sáng 27-8-1945, lễ ra mắt UBND Cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa được tổ chức tại Quảng trường Sông Phố với hơn một vạn cán bộ, quần chúng khắp nơi trong tỉnh tham dự. Đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa sau đó là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh tỉnh Biên Hòa, hy sinh năm 1946.

“Đảng ta, trong quá trình chỉ đạo chiến tranh giải phóng luôn luôn coi trọng vấn đề xây dựng căn cứ địa kháng chiến, xây dựng hậu phương cho cuộc kháng chiến. Ở Nam Bộ, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, trước kẻ thù lớn mạnh gấp bội, các lực lượng kháng chiến buộc phải tạm thời rời khỏi các đô thị và nhiều vùng nông thôn quan trọng, rút về dựa vào những địa bàn có địa hình thuận lợi để bảo toàn củng cố lực lượng, xây dựng phát triển mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài. Từ đây, những vùng tự do rộng lớn cùng với các căn cứ du kích, căn cứ lõm được Đảng ta từng bước xây dựng thành một hệ thống liên hoàn, xen kẽ nhau trên toàn bộ các chiến trường, vừa trở thành hậu phương cách mạng tại chỗ, vừa tạo nên thế uy hiếp trực tiếp và thường xuyên đối với kẻ thù. Chiến khu Đ là một trong những căn cứ địa như thế” - Thượng tướng Trần Văn Trà.(3)

Sự ra đời và phát triển của Chiến khu Đ gắn liền với quá trình xây dựng, trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng trên địa bàn. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, công tác huấn luyện quân sự đã được triển khai khẩn trương. Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu được tổ chức ở ấp Vĩnh Cửu, xã Tam Hiệp, quận Châu Thành, khai giảng từ ngày 26-9-1945. Giáo sư Phạm Thiều đã phụ trách giảng dạy chính trị, giúp học viên học về lịch sử và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, xác định trách nhiệm làm nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng…

Tháng 5-1946, tại Xóm Đèn, hội nghị quân sự tỉnh Biên Hòa được triệu tập. Hội nghị đã nhất trí thông qua 2 vấn đề chính: Nhập Vệ quốc đoàn huyện Châu Thành (60 người, 30 súng trường), trường du kích Sở Tiêu (40 người, 13 súng trường) với Vệ quốc đoàn Biên Hòa (bộ đội Huỳnh Văn Nghệ) thành lực lượng vũ trang thống nhất của tỉnh, lấy tên là Vệ quốc đoàn Biên Hòa. Xây dựng Chiến khu Đ thành căn cứ chính thức của tỉnh Biên Hòa. Các cơ quan của tỉnh và Vệ quốc đoàn có nhiệm vụ phối hợp xây dựng và bảo vệ.

Thời kỳ 9 năm chống Pháp, chiến khu Đ được hình thành khởi đầu chủ yếu từ hạt nhân 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An (thuộc quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa).

Theo thời gian, lực lượng không ngừng lớn mạnh. Tháng 6-1946, Bộ chỉ huy Khu 7 mở hội nghị bàn việc thống nhất và chỉ huy các lực lượng vũ trang trong toàn khu. Nhằm tập hợp sức mạnh, Vệ quốc đoàn Biên Hòa và Vệ quốc đoàn Long Thành thống nhất lại, tổ chức thành chi đội, lấy phiên hiệu là chi đội 10 do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ làm chi đội trưởng. Lực lượng của chi đội lúc này lên tới 1.100 người, 380 súng trường, 13 súng máy, 25 tiểu liên, 1 súng cối. Việc thành lập chi đội 10 đã đánh dấu một bước phát triển mới trên bước đường xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh Biên Hòa nói chung và trên địa bàn Chiến khu Đ nói riêng.

Từ năm 1948, 1949, Chiến khu Đ dần được mở rộng, lấy đường 16 từ phía Tây và sông Đồng Nai từ phía Nam làm ranh giới để không ngừng mở lên phía Bắc tới Phước Hòa và phía Đông tới Sông Bé, rồi tiếp tục phát triển vượt qua Sông Bé phát lên phía Bắc và Đông Bắc. Dù vậy, phạm vi địa bàn chủ yếu của Chiến khu Đ lúc đó là khu vực: Phía Tây giáp đường 16 đoạn từ Tân Uyên lên Cổng Xanh, phía Bắc giáp Sông Bé đoạn từ cầu Phước Hòa lên Chánh Hưng, phía Đông vẫn giáp Sông Bé đoạn từ Chánh Hưng đến ngã ba Hiếu Liêm và phía Nam giáp sông Đồng Nai đoạn từ ngã ba Hiếu Liêm về Tân Uyên.

Sang thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm về quy mô của cuộc chiến tranh, phạm vi chiến khu chuyển dần trung tâm căn cứ lên phía Đông Bắc. Đến đầu năm 1975, sau khi Phước Long được giải phóng, căn cứ địa được xây dựng hoàn chỉnh, phạm vi phát triển đến mức cao nhất. Toàn bộ căn cứ địa nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai, khu vực giáp biên giới Việt Nam - Campuchia, thuộc địa bàn các xã, phường phía Bắc thành phố Đồng Nai ngày nay.

Trong bài viết “Chiến khu Đ - Căn cứ địa cách mạng kiên cường của chiến trường miền Nam”(5) Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam đánh giá: “Suốt thời gian từ 1951 đến khi ký kết Hiệp định Genève, các đơn vị cơ quan ta tại chiến khu Đ, vượt qua muôn vàn khó khăn nào thiên tai (đặc biệt là cơn bão lụt khốc liệt năm Nhâm Thìn 1952), nào địch họa do càn quét, đánh phá bằng bom đạn, phá hoại kinh tế, gài do thám chỉ điểm, biệt kích... đã giữ vững căn cứ địa cách mạng, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân cả nước đưa đến ký kết Hiệp định Genève 1954. Đến kháng chiến chống Mỹ, Trung ương Cục miền Nam được Trung ương giao nhiệm vụ lãnh đạo từ Khu 5 trở vào, Trung ương Cục đã chọn Chiến khu Đ làm căn cứ đặt cơ quan lãnh đạo của Trung ương Cục.

Chiến khu Đ, trước tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng, đã mở rộng địa bàn, vượt ra khỏi phạm vi cũ trong kháng chiến chống Pháp, phát triển rộng về phía Đông và Đông Bắc giáp với biên giới Campuchia và biên giới Đarlac Nam Tây Nguyên.

Chính nơi đây là một trong những nơi ra đời đầu tiên của các đơn vị vũ trang miền Đông và chủ lực Miền. Đường hành lang từ Trung ương theo đường Trường Sơn xuống Nam Tây Nguyên được nối thẳng với Chiến khu Đ.

Sau này, do tình hình phát triển của cách mạng, Trung ương Cục và Quân ủy Miền không đóng ở chiến khu Đ nữa nhưng chiến khu vẫn là một căn cứ địa lớn của cách mạng miền Nam, đóng vai trò hậu phương tại chỗ của miền Đông, là bàn đạp để lực lượng ta tiến công vào các cơ quan đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng, đường giao thông chiến lược của địch.

Chính chiến khu Đ là nơi tập kết triển khai các binh đoàn chủ lực trong trận quyết chiến chiến lược, giành thắng lợi hoàn toàn cho cách mạng nước ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.

Trận tập kích bằng pháo vào sân bay Biên Hòa (10-1964) mở đầu cho hàng loạt trận đánh bằng pháo binh, là nơi xuất phát chiến dịch giải phóng tỉnh lỵ Phước Long (1- 1975), nơi xuất phát chiến dịch 12 ngày đêm (từ ngày 9 đến 21-4-1975) giải phóng thị xã Long Khánh, đập tan cánh cửa thép Xuân Lộc, tuyến phòng ngự cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn, mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ, sự hình thành và lớn mạnh của Chiến khu Đ đã khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và tinh thần bất khuất của quân dân miền Đông. Chiến khu Đ không chỉ bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não mà còn là bàn đạp vững chắc để làm nên những chiến công vang dội. Nhưng thử thách của “Tọa độ đỏ” không dừng lại ở đó. Khi bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Chiến khu Đ lại tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử mới, trở thành nơi ra đời của những quyết sách xoay chuyển cục diện chiến trường, viết tiếp bản hùng ca bất khuất của miền Đông gian lao mà anh dũng.

(1), (3), (4), (5) (Lịch sử Chiến khu Đ/Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Tỉnh ủy Sông Bé, Tỉnh ủy Đồng Nai. NXB Đồng Nai năm 1997, trang lời giới thiệu, 18, 26, 27, 41).
(2) (Hỏi đáp về Biên Hòa - Đồng Nai/Phan Đình Dũng, Nguyễn Thanh Lợi. NXB Đồng Nai năm 2020, tr219-221).

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/media/megastory/202608/loat-megastory-duoi-la-co-to-quoc-chien-khu-d-toa-do-do-duoi-la-co-giai-phong-ky-1-f5e112c/