Lợi nhuận doanh nghiệp phân hóa trước chặng nước rút
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường, Công ty CP Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (HSC) cho rằng, lợi nhuận doanh nghiệp quý III/2026 vẫn duy trì tăng trưởng nhưng chậm hơn nửa đầu năm và phân hóa rõ giữa các nhóm ngành.
PV: Thưa ông, từ những dữ liệu cập nhật đến nay, ông dự báo bức tranh doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết quý III/2026 như thế nào so với cùng kỳ và nửa đầu năm?

Ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng
Ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng: Loại trừ VIC, phạm vi phân tích của chúng tôi hiện bao phủ trên 65% tổng vốn hóa thị trường, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn và vừa. Trên cơ sở đó, chúng tôi dự báo lợi nhuận của phần lớn doanh nghiệp niêm yết trong quý III/2026 vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, khoảng 30% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, đà tăng đã chậm lại so với mức 38% trong quý I và 49% trong quý II.
Về doanh thu, các yếu tố hỗ trợ từ kinh tế trong nước vẫn tương đối tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa duy trì mức tăng hai chữ số, trong đó tháng 8 tăng 14,9% so với cùng kỳ, cao nhất trong khoảng một năm trở lại đây. Tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 10,1% so với đầu năm tính đến cuối tháng 8.
Tuy nhiên, mức độ cải thiện đang phân hóa rõ hơn. Những lĩnh vực gắn nhiều với nhu cầu nội địa, như bán lẻ và một số nhóm vận tải, vẫn có khả năng tăng trưởng tương đối tốt. Ngược lại, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu có thể chịu áp lực từ nhu cầu bên ngoài chưa ổn định và diễn biến bất lợi của chi phí đầu vào.
Đối với lợi nhuận, dù tăng trưởng so với cùng kỳ vẫn ở mức cao, chúng tôi cho rằng thị trường đã đi qua giai đoạn tăng tốc mạnh nhất của chu kỳ hiện tại. Mặt bằng lãi suất cao hơn so với đầu năm, hiệu ứng nền thấp của năm trước giảm dần, trong khi áp lực lạm phát từ đầu quý III bắt đầu phản ánh vào chi phí hoạt động và biên lợi nhuận.
Bên cạnh đó, bất ổn địa chính trị thế giới vẫn là biến số khó lường. Nếu kéo dài, các yếu tố này có thể gây thêm áp lực lên giá nguyên vật liệu, chi phí logistics và tâm lý tiêu dùng, qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp.
Nhìn tổng thể, lợi nhuận quý III vẫn tăng cao nhưng chậm hơn nửa đầu năm. Cùng với đó, khả năng chuyển hóa doanh thu thành lợi nhuận và bảo vệ biên lợi nhuận sẽ tạo khác biệt giữa các doanh nghiệp.

Lợi nhuận doanh nghiệp quý III/2026 duy trì tăng trưởng nhưng phân hóa rõ nét. Ảnh: Đức Thanh
PV: Trong bối cảnh tăng trưởng ngày càng phân hóa, theo ông, những nhóm ngành nào có khả năng ghi nhận kết quả nổi bật trong quý III và đâu là những ngành còn chịu áp lực?
Ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng: Ở nhóm bất động sản, lợi nhuận trong phạm vi phân tích của chúng tôi được dự báo tăng khoảng 42% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nếu loại trừ các doanh nghiệp đóng góp lớn như Vinhomes (VHM), Vincom Retail (VRE) và trường hợp Novaland (NVL) chuyển từ lỗ cùng kỳ năm trước sang có lãi, lợi nhuận của phần còn lại trong nhóm có thể giảm khoảng 15%. Điều này cho thấy nền tảng lợi nhuận của ngành chưa đồng đều, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất cho vay cao hơn tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ và hoạt động bán hàng.
Nhìn sâu vào chất lượng lợi nhuận
Chất lượng tăng trưởng lợi nhuận giữa các nhóm ngành không đồng đều. Ngoài ảnh hưởng từ nền so sánh thấp, cần tách biệt thu nhập bất thường và tiết giảm chi phí. Chất lượng lợi nhuận thể hiện qua doanh thu, biên lợi nhuận gộp và dòng tiền; doanh nghiệp dựa vào yếu tố một lần sẽ khó duy trì đà tăng.
Bên cạnh đó, dầu khí là một trong những nhóm có triển vọng nổi bật trong quý III. Lợi nhuận các doanh nghiệp trong phạm vi phân tích được dự báo tăng khoảng 370% so với cùng kỳ. Trong đó, BSR là một trong những động lực chính, với lợi nhuận quý III dự kiến gấp hơn 15 lần cùng kỳ, nhờ crack spread (chênh lệch giá lọc dầu - PV) duy trì ở mức cao, khoảng gấp đôi cùng kỳ, qua đó hỗ trợ biên lợi nhuận hoạt động lọc dầu.
Bán lẻ cũng duy trì triển vọng tích cực, với lợi nhuận dự báo tăng khoảng 33% so với cùng kỳ nhờ sức cầu nội địa và tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng. Đối với ngân hàng, lợi nhuận toàn ngành được kỳ vọng tăng khoảng 18%. Động lực chủ yếu đến từ tăng trưởng thu nhập lãi thuần, trong khi chi phí dự phòng tại một số ngân hàng có xu hướng giảm.
Ở chiều ngược lại, xây dựng, doanh nghiệp xuất khẩu và hàng không có thể tiếp tục chịu áp lực. Nhóm xuất khẩu đối mặt với nhu cầu bên ngoài còn bất định và chi phí đầu vào, trong khi xây dựng và hàng không chịu sức ép về chi phí và biên lợi nhuận.
Như vậy, tăng trưởng toàn thị trường được dẫn dắt đáng kể bởi một số ngành và doanh nghiệp. Do đó, cần xem xét cả chất lượng và mức độ lan tỏa của tăng trưởng khi đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch năm.
PV: Từ kết quả quý III và lũy kế 9 tháng, ông đánh giá thế nào về khả năng hoàn thành mục tiêu lợi nhuận năm 2026? Những yếu tố nào có thể tác động đáng kể đến kết quả quý IV?
Ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng: Kết quả quý III và lũy kế 9 tháng là một thước đo để đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch năm, nhưng không phải yếu tố duy nhất. Khả năng về đích còn phụ thuộc vào nền tảng của từng doanh nghiệp, gồm quy mô, khả năng tiếp cận nguồn vốn, nhà cung cấp, chiến lược kinh doanh, năng lực quản trị và những biến động đặc thù trong lĩnh vực hoạt động.
Khi giá dầu tăng mạnh do xung đột tại eo biển Hormuz, các doanh nghiệp lọc hóa dầu, dịch vụ kỹ thuật dầu khí và vận tải dầu khí có thể hưởng lợi, trong khi doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu chịu tác động bất lợi. Trong lĩnh vực thi công - xây dựng, các nhà thầu lớn có thể tiếp tục mở rộng quy mô thi công và duy trì biên lợi nhuận cải thiện nhẹ, như CTD, trong khi các nhà thầu nhỏ và vừa chịu sức ép đồng thời từ chi phí tài chính, nhân công và nguyên vật liệu.
Bên cạnh các yếu tố nội tại, quý IV mang tính mùa vụ đối với nhiều lĩnh vực như ngân hàng, tiêu dùng, bán lẻ và một số ngành sản xuất. Đến tháng 9, tỷ lệ giải ngân đạt trên 50% kế hoạch năm, với quy mô lên tới khoảng nửa triệu tỷ đồng. Nếu được đưa vào nền kinh tế trong ba tháng cuối năm, quá trình giải ngân có thể tạo thêm dư địa hoạt động cho các doanh nghiệp liên quan đến đầu tư hạ tầng.
Chúng tôi cho rằng, hiệu quả giải ngân đầu tư công và mặt bằng lãi suất là hai yếu tố vĩ mô đáng chú ý đối với kết quả quý IV. Khả năng hoàn thành kế hoạch năm vì vậy vẫn phụ thuộc đáng kể vào nền tảng và khả năng thích ứng của từng doanh nghiệp, để ứng phó tốt hơn với biến động mới.
PV: Xin cảm ơn ông!
Tín dụng và biên lãi hỗ trợ lợi nhuận ngân hàng
Theo Chứng khoán Vietcombank (VCBS), lợi nhuận ngành ngân hàng quý III/2026 được dự báo tiếp tục tăng trưởng, chủ yếu nhờ thu nhập lãi. Tín dụng được đẩy mạnh, trong khi biên lãi ròng có xu hướng phục hồi nhờ chuyển dịch cơ cấu cho vay sang kỳ hạn dài và các khoản vay ưu đãi chuyển sang lãi suất thả nổi.
Nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân lớn tham gia tài trợ các dự án hạ tầng trọng điểm được kỳ vọng hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ thanh khoản. Bên cạnh đó, chất lượng tài sản nhìn chung tiếp tục được kiểm soát, với tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì ổn định. Tuy nhiên, xu hướng gia tăng của nợ nhóm 2 và tỷ lệ hình thành nợ xấu là những yếu tố cần lưu ý trong thời gian tới.

