Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục phân hóa, nhóm Big 4 có lợi thế lớn nhờ vốn rẻ

Nhóm Big4 ngân hàng có lợi thế về cải thiện NIM nhờ chi phí vốn thấp hơn, lợi thế CASA và tỷ trọng các khoản vay trung dài hạn chuyển sang lãi suất thả nổi gia tăng. Trong khi nhóm còn lại chịu áp lực tăng khi lãi suất huy động tăng...

Theo báo cáo phân tích mới đây của Chứng khoán MB (MBS), lợi nhuận quý 3/2026 của 13 ngân hàng niêm yết trong danh mục theo dõi được dự báo tăng 19,1% so với cùng kỳ, với động lực chính đến từ nhóm ngân hàng quốc doanh.

Trong đó, thu nhập lãi thuần của Vietcombank, VietinBank và BIDV được kỳ vọng tăng 22,1%, cao hơn đáng kể mức 14,1% của nhóm ngân hàng tư nhân. Tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì tích cực, đặc biệt tại phân khúc doanh nghiệp và khách hàng FDI.

Nhóm Big4 cũng có lợi thế về chi phí vốn, tỷ lệ CASA và tỷ trọng các khoản vay trung, dài hạn chuyển sang lãi suất thả nổi ngày càng lớn. Những yếu tố này giúp NIM cải thiện rõ hơn so với cùng kỳ. Cùng với đó, chi phí dự phòng được dự báo giảm đáng kể, tạo thêm dư địa cho lợi nhuận.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, áp lực lên NIM lớn hơn khi các nhà băng phải tăng huy động để đảm bảo thanh khoản, trong khi nhu cầu vay của những phân khúc có lợi suất cao như khách hàng cá nhân và SME vẫn phục hồi chậm.

Riêng các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tiếp tục có lợi thế nhờ hạn mức tín dụng cao và không bị hạn chế đối với hoạt động cho vay bất động sản, do đó mức độ chịu áp lực NIM được đánh giá thấp hơn.

MBS nhận định mặt bằng NIM toàn ngành trong quý 3 vẫn chịu sức ép từ chi phí vốn cao, đặc biệt tại những ngân hàng tư nhân tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều vào tiền gửi có kỳ hạn. Trong khi đó, nguồn thu ngoài lãi được kỳ vọng tiếp tục đến chủ yếu từ phí dịch vụ và hoạt động thu hồi các khoản nợ đã xử lý bằng dự phòng.

Về tín dụng, MBS cho rằng toàn ngành vẫn duy trì đà tăng khả quan nhờ nhu cầu vay từ doanh nghiệp lớn và khách hàng FDI. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu vẫn tập trung ở nhóm SME và bán lẻ khi mặt bằng lãi suất còn cao, đặc biệt tại các ngân hàng tư nhân.

Những ngân hàng có khẩu vị tín dụng thận trọng, kiểm soát chất lượng tài sản tốt và sở hữu bộ đệm dự phòng vững như Vietcombank, VietinBank, ACB và Techcombank được dự báo giữ tỷ lệ nợ xấu cuối quý 3 tương đối ổn định so với đầu năm. Ngược lại, HDBank, LPBank, Sacombank và TPBank có khả năng tiếp tục chịu áp lực về chất lượng tài sản.

Trong 13 ngân hàng được MBS theo dõi, tổng chi phí dự phòng quý 3 được dự báo tăng 6,7% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể mức tăng 29% trong nửa đầu năm. Riêng nhóm ngân hàng quốc doanh, chi phí dự phòng có thể giảm 18,5%, trong khi nhóm còn lại tăng 28,8%.

Diễn biến này cho thấy nhóm quốc doanh tiếp tục có lợi thế về bộ đệm dự phòng và khả năng kiểm soát chi phí tín dụng, trong khi các ngân hàng tư nhân vẫn phải duy trì mức trích lập cao hơn để xử lý rủi ro từ các khoản vay bán lẻ, SME và bất động sản.

MBS giữ quan điểm tích cực về triển vọng lợi nhuận ngân hàng năm 2026, với mức tăng trưởng dự kiến khoảng 22% so với năm trước trong nhóm 13 ngân hàng theo dõi.

Những nhà băng được đánh giá có nhiều dư địa hơn là nhóm hưởng lợi từ đầu tư công, xuất nhập khẩu hoặc được phân bổ hạn mức tín dụng cao; đồng thời duy trì chất lượng tài sản tốt, có CASA cao, chi phí vốn thấp hoặc sở hữu các câu chuyện riêng như tái cơ cấu, bán vốn và xử lý tài sản tồn đọng.

Chi tiết về các ngân hàng trong danh mục theo dõi, Vietcombank được MBS dự báo tín dụng tăng 9% so với đầu năm, tập trung ở nhóm doanh nghiệp lớn và FDI. NIM có thể đạt gần 3%, tăng 38 điểm cơ bản, giúp thu nhập lãi thuần tăng 34%, lên 19.571 tỷ đồng.

Chi phí dự phòng được dự báo ở mức 687 tỷ đồng, giảm 11% nhờ hoàn nhập dự phòng từ các khoản nợ xấu thuộc danh mục chứng khoán đầu tư. Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 14.567 tỷ đồng, tăng 30%, đưa lợi nhuận 9 tháng lên 43.789 tỷ đồng, tăng 32%.

VietinBank được dự báo tín dụng có thể tăng 10% so với đầu năm, trong đó các dự án lớn phục vụ Hội nghị APEC 2027 được đẩy mạnh giải ngân. NIM đạt khoảng 2,7%, tăng 14 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi chi phí dự phòng giảm 45,8% so với cùng kỳ và giảm 40% so với quý trước.

Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 13.800 tỷ đồng, tăng 30%. Lũy kế 9 tháng, ngân hàng có thể đạt 39.600 tỷ đồng, tăng 34,3% và hoàn thành 75% kế hoạch năm.

Tín dụng VPBank dự kiến tăng khoảng 26% và huy động tăng 29% so với đầu năm. Dù chi phí vốn tạo sức ép khiến NIM giảm 29 điểm cơ bản, thu nhập lãi thuần vẫn được dự báo tăng khoảng 26%.

Chi phí dự phòng có thể lên 7.800 tỷ đồng, tăng 19%. Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 11.649 tỷ đồng, tăng 27%. Sau 9 tháng, lợi nhuận trước thuế dự kiến tăng 50%, tương đương khoảng 74% kế hoạch cả năm.

Tín dụng Techcombank dự kiến tăng 20% so với đầu năm, trong đó dư nợ dành cho các đại dự án khoảng 30.000 tỷ đồng. NIM duy trì ở mức 3,7%, giảm 17 điểm cơ bản so với cùng kỳ.

Chi phí dự phòng được dự báo giảm 13,1% so với cùng kỳ nhưng tăng gấp đôi so với quý trước. Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 9.700 tỷ đồng, đưa lợi nhuận 9 tháng lên 28.200 tỷ đồng, tăng 20,8% và hoàn thành khoảng 75% kế hoạch năm.

Tín dụng BIDV tăng khoảng 6% so với đầu năm, chủ yếu đến từ SME và doanh nghiệp, trong khi huy động tăng 7%. Thu nhập lãi thuần dự kiến tăng 18%, còn chi phí dự phòng tăng khoảng 6%.

Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 9.206 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ nhưng thấp hơn quý trước. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận trước thuế được dự báo tăng 19%.

HDBank được MBS dự báo có mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhất trong nhóm theo dõi với tín dụng tăng khoảng 33% và huy động tăng 35% so với đầu năm, trong khi NIM phục hồi lên 4,7%, cao hơn 19 điểm cơ bản.

Chi phí dự phòng dự kiến tăng 23,2%. Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 7.500 tỷ đồng, tăng 58,7%. Lũy kế 9 tháng, ngân hàng có thể đạt 20.700 tỷ đồng, tăng 40% và hoàn thành 69% kế hoạch năm.

ACB được dự báo đạt lợi nhuận sau thuế quý 3 khoảng 4.795 tỷ đồng, tăng 12%. Tín dụng tăng 12,9% so với đầu năm, trong khi huy động gần như đi ngang. NIM duy trì khoảng 3%.

Chi phí dự phòng tăng 2,5 lần so với cùng kỳ do nền so sánh thấp và tác động của Nghị định 86/2024, song giảm 30% so với quý trước. Lợi nhuận trước thuế 9 tháng dự kiến đạt 16.700 tỷ đồng, tăng 4,1% và hoàn thành 75% kế hoạch năm.

LPBank là một trong những ngân hàng được dự báo suy giảm lợi nhuận. Tín dụng tăng khoảng 10,5% so với đầu năm, thấp hơn mức 17% cùng kỳ năm trước. NIM chịu sức ép từ chi phí vốn, kéo thu nhập lãi thuần giảm nhẹ, trong khi chi phí dự phòng tăng khoảng 40%.

Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 3.094 tỷ đồng, giảm 10%. Lũy kế 9 tháng, ngân hàng đạt khoảng 5.631 tỷ đồng, giảm 5% và hoàn thành 61% kế hoạch năm.

VIB được dự báo đạt lợi nhuận sau thuế quý 3 khoảng 1.905 tỷ đồng, tăng 17,3%. Tín dụng tăng khoảng 8%, trong khi huy động tăng 11% so với đầu năm. Việc huy động tăng nhanh hơn tín dụng khiến NIM giảm xuống 3%, thấp hơn 13 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Chi phí dự phòng giảm 10% do áp lực nợ xấu chưa gia tăng.

Tăng trưởng tín dụng TPBank có thể đạt khoảng 12%, chủ yếu nhờ phân khúc SME. NIM giảm 31 điểm cơ bản xuống khoảng 2,9%, trong khi thu nhập lãi thuần tăng 12%, thu nhập ngoài lãi tăng 8% và chi phí dự phòng tăng 5%.

Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 2.142 tỷ đồng, tăng 13%. Sau 9 tháng, ngân hàng có thể đạt 6.625 tỷ đồng, tăng 10% và hoàn thành khoảng 64% kế hoạch năm.

Tương tự, tín dụng Sacombank dự kiến tăng 6% so với quý trước, tạo cơ sở để ngân hàng hướng tới mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% cả năm. Tuy nhiên, NIM giảm mạnh xuống 2,7%, thấp hơn 123 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi chi phí dự phòng tăng gấp đôi.

Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 1.800 tỷ đồng, giảm 50,8%. Lũy kế 9 tháng, ngân hàng đạt khoảng 5.900 tỷ đồng, giảm 46% và hoàn thành 73% kế hoạch năm.

Với OCB, tín dụng chỉ tăng 2,9% so với quý trước do ngân hàng gần sử dụng hết hạn mức tín dụng 12% được cấp. NIM ở mức 2,9%, giảm 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi chi phí dự phòng tăng 2,5 lần do nền so sánh thấp.

Lợi nhuận trước thuế quý 3 ước đạt 1.600 tỷ đồng, tăng 5,7%. Sau 9 tháng, ngân hàng có thể đạt 4.100 tỷ đồng, tăng 19,5% và hoàn thành 60% kế hoạch năm.

Eximbank được dự báo tín dụng tăng khoảng 5% so với quý trước, tương đương 7% so với đầu năm, với động lực chính đến từ nhóm cổ đông Gelex.

Trong khi đó, huy động tăng mạnh 10% khiến chi phí vốn tăng tới 270 điểm cơ bản, kéo NIM xuống 2%. Chi phí dự phòng tăng 53,4%, còn tỷ lệ CIR tiếp tục duy trì trên 55%. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận trước thuế ước đạt 1.082 tỷ đồng, giảm 47,1% và hoàn thành 71% kế hoạch năm.

Bảo Châu

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/loi-nhuan-ngan-hang-tiep-tuc-phan-hoa-nhom-big-4-co-loi-the-lon-nho-von-re-post573187.html