Lợi nhuận PVcomBank tăng 35% nhờ kinh doanh cải thiện hay giảm trích lập dự phòng?
Lợi nhuận trước thuế 9 tháng năm 2026 của PVcomBank tăng hơn 35%, dù lợi nhuận thuần trước dự phòng giảm tới 56,49%. Trong khi đó, thu nhập lãi thuần tăng mạnh, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm gần 90%. Những diễn biến này đặt ra câu hỏi về động lực tăng trưởng và khả năng duy trì lợi nhuận của ngân hàng, nhất là khi nợ có khả năng mất vốn tăng gần 28%, chiếm hơn 84% tổng nợ xấu.

PVcomBank báo lãi tăng 35%, nợ có khả năng mất vốn tăng cao
Báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026 của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm đạt 1.877,69 tỷ đồng, tăng 35,15% so với cùng kỳ năm trước. Riêng quý III, lợi nhuận trước thuế đạt 855,22 tỷ đồng, tăng 48,36%. Lợi nhuận sau thuế lũy kế đạt 1.835,82 tỷ đồng, tăng 33,86%.
Ở góc độ hoạt động kinh doanh, thu nhập lãi thuần của PVcomBank tăng 223,51%, đạt 4.680,38 tỷ đồng. Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng 23,66%, trong khi chi phí lãi chỉ tăng 1,97%.
Hoạt động dịch vụ mang về 294,41 tỷ đồng lãi thuần, tăng 35,38%. Ngân hàng cũng ghi nhận lãi 173,01 tỷ đồng từ mua bán chứng khoán kinh doanh, tăng 32,04%; hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư chuyển từ lỗ 43,70 tỷ đồng cùng kỳ sang lãi 365,28 tỷ đồng.
Những con số trên cho thấy kết quả kinh doanh của PVcomBank có sự cải thiện ở một số nguồn thu. Tuy nhiên, khi bóc tách sâu hơn báo cáo tài chính, bức tranh lợi nhuận lại xuất hiện những diễn biến trái chiều, đặc biệt ở khả năng tạo lợi nhuận trước dự phòng và chất lượng tài sản tín dụng.
Lợi nhuận tăng nhờ dự phòng giảm sâu, sức tạo lợi nhuận suy yếu
Điểm đáng chú ý nhất trong kết quả kinh doanh 9 tháng của PVcomBank là sự chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận thuần trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng.
Cụ thể, lợi nhuận thuần trước dự phòng của ngân hàng đạt 2.276,98 tỷ đồng, giảm tới 56,49% so với mức 5.233,20 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, lợi nhuận trước thuế vẫn tăng 35,15%.
Nguyên nhân trực tiếp nằm ở sự thay đổi mạnh của chi phí dự phòng. Trong 9 tháng, PVcomBank ghi nhận chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 399,29 tỷ đồng, giảm 89,61% so với mức 3.843,86 tỷ đồng cùng kỳ năm 2025.
Chi phí dự phòng giảm gần 3.445 tỷ đồng so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận thuần trước dự phòng giảm gần 2.956 tỷ đồng. Sự thay đổi của hai khoản mục này giải thích vì sao lợi nhuận trước thuế vẫn tăng dù kết quả kinh doanh trước dự phòng suy giảm đáng kể.

Nói cách khác, mức tăng lợi nhuận 9 tháng không đi cùng sự cải thiện tương ứng ở khâu tạo lợi nhuận trước khi tính đến rủi ro tín dụng. Đây là điểm cần phân biệt khi đánh giá kết quả kinh doanh của PVcomBank, nhất là trong bối cảnh nợ xấu tuyệt đối và nợ nhóm 5 đều tăng.
Một diễn biến khác cũng đáng chú ý là thu nhập từ hoạt động khác giảm tới 95,55%, từ 6.276,57 tỷ đồng xuống còn 279,46 tỷ đồng. Sự sụt giảm này khiến lợi nhuận thuần trước dự phòng suy giảm đáng kể, dù thu nhập lãi thuần và một số hoạt động kinh doanh khác ghi nhận tăng trưởng.
Điều này cho thấy mức tăng lợi nhuận trước thuế chưa phản ánh đầy đủ sự cải thiện trong năng lực tạo lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đáng lưu ý, lợi nhuận trước dự phòng giảm sâu không đồng nghĩa ngân hàng đang thua lỗ trong hoạt động cốt lõi. Để đánh giá chính xác hơn, cần xem xét cơ cấu thu nhập, mức độ biến động của các khoản thu bất thường và khả năng duy trì những nguồn thu trong các kỳ tiếp theo.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nợ xấu tuyệt đối tăng và nợ nhóm 5 gia tăng mạnh, việc chi phí dự phòng giảm gần 90% trở thành một chỉ tiêu cần được theo dõi sát. Nếu chất lượng tín dụng tiếp tục diễn biến bất lợi, ngân hàng có thể phải tăng trích lập dự phòng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận các kỳ sau.
Nợ nhóm 5 tăng gần 900 tỷ đồng, chiếm 84% tổng nợ xấu
Áp lực đáng chú ý khác tại PVcomBank nằm ở diễn biến chất lượng tín dụng. Đến ngày 30/9/2026, tổng nợ xấu nội bảng của ngân hàng đạt 4.883,13 tỷ đồng, tăng 8,83%, tương ứng tăng 395,98 tỷ đồng so với mức 4.487,15 tỷ đồng đầu năm.
Đáng chú ý, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay giảm từ 2,96% xuống 2,85%, nhưng quy mô nợ xấu tuyệt đối vẫn tăng. Sự khác biệt này cho thấy cần nhìn đồng thời cả tỷ lệ nợ xấu và giá trị nợ xấu thực tế, thay vì chỉ dựa vào một chỉ tiêu đơn lẻ.
Đặc biệt, cơ cấu nợ xấu có sự dịch chuyển đáng lo ngại khi nợ nhóm 5 tăng mạnh. Cụ thể, nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn, tăng từ 3.218,92 tỷ đồng lên 4.117,77 tỷ đồng, tương ứng tăng 27,92%, tương đương tăng 898,85 tỷ đồng. Nhóm nợ này hiện chiếm tới 84,33% tổng nợ xấu của PVcomBank. Không chỉ nợ nhóm 5, nợ nhóm 2 cũng tăng 27,39%, từ 1.090,10 tỷ đồng lên 1.388,64 tỷ đồng.
Sự gia tăng đồng thời của nợ nhóm 2 và nợ nhóm 5 là diễn biến cần được quan tâm. Nếu nợ nhóm 2 phản ánh những khoản vay có dấu hiệu cần chú ý, thì nợ nhóm 5 cho thấy quy mô các khoản nợ đã chuyển sang trạng thái rủi ro cao nhất đang ngày càng lớn.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của PVcomBank hiện đạt khoảng 50,07%, với số dư dự phòng rủi ro cho vay khách hàng là 2.444,90 tỷ đồng, tương ứng chưa bằng một nửa tổng nợ xấu 4.883,13 tỷ đồng.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu khoảng 50,07% cho thấy dự phòng hiện có tương đương một nửa quy mô nợ xấu nội bảng, nhưng không thể hiểu đây là mức tổn thất cuối cùng mà ngân hàng phải gánh chịu. Khả năng thu hồi nợ còn phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, dòng tiền trả nợ của khách hàng và tiến độ xử lý từng khoản vay. Dù vậy, khi nợ nhóm 5 đã vượt 4.100 tỷ đồng, quy mô dự phòng và khả năng bổ sung bộ đệm rủi ro vẫn là những yếu tố cần theo dõi.
Điều đáng quan tâm không chỉ là nợ xấu tăng bao nhiêu, mà còn là khả năng ngân hàng xử lý được các khoản nợ cũ trong khi hạn chế những khoản vay mới chuyển thành nợ có khả năng mất vốn. Nếu áp lực tín dụng tiếp tục gia tăng, PVcomBank có thể phải đối diện với nhu cầu bổ sung dự phòng, chi phí thu hồi nợ và áp lực lên lợi nhuận trong những kỳ tiếp theo.
Lãi và phí phải thu gần 27.000 tỷ đồng, bài toán thu hồi vốn còn dài
Một khoản mục khác có quy mô đáng chú ý trên bảng cân đối của PVcomBank là lãi và phí phải thu nội bảng. Tại ngày 30/9/2026, khoản mục này đạt 26.778,81 tỷ đồng, tăng 36,51%, tương ứng tăng 7.162,66 tỷ đồng so với mức 19.616,15 tỷ đồng đầu năm. Lãi và phí phải thu hiện tương đương 9,55% tổng tài sản và gấp khoảng 1,9 lần vốn chủ sở hữu của ngân hàng, ở mức 14.087,42 tỷ đồng.
Quy mô khoản mục này tăng nhanh khiến khả năng thu hồi các khoản thu nhập đã ghi nhận trở thành vấn đề đáng quan tâm. Tuy nhiên, lãi và phí phải thu không đồng nghĩa toàn bộ là khoản quá hạn hoặc mất khả năng thu hồi. Điều cần làm rõ là mức tăng đến từ đâu, thời gian tồn đọng của các khoản phải thu và khả năng chuyển hóa thành dòng tiền thực tế.
Nếu khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ, ngân hàng có thể phải xử lý các khoản lãi đã hạch toán nhưng chưa thu được. Khi đó, kết quả kinh doanh những kỳ tiếp theo có thể chịu ảnh hưởng.

Đáng chú ý, lãi cho vay và phí phải thu chưa thu được ngoại bảng của PVcomBank đạt 9.547,29 tỷ đồng, tăng 21,30% so với đầu năm. Trong đó, riêng lãi cho vay chưa thu được là 8.641,31 tỷ đồng. Nợ khó đòi đã xử lý rủi ro đang theo dõi ngoại bảng lên tới 29.240,83 tỷ đồng, tăng 11,87%. Trong số này, nợ gốc là 8.801,28 tỷ đồng, còn nợ lãi lên tới 20.439,55 tỷ đồng.
Những khoản nợ đã xử lý bằng nguồn dự phòng và đưa ra ngoại bảng không đồng nghĩa ngân hàng đã thu hồi được tiền. Các khoản này vẫn tiếp tục được theo dõi để thu hồi, qua đó cho thấy công việc xử lý tài sản tín dụng của ngân hàng chưa kết thúc sau khi ghi nhận tổn thất kế toán. Lãi và phí phải thu nội bảng, lãi phải thu ngoại bảng và nợ khó đòi đã xử lý rủi ro phản ánh khối lượng đáng kể các khoản thu nhập và tài sản tín dụng cần tiếp tục được thu hồi, xử lý.
Tuy nhiên, không thể cộng cơ học những khoản mục này thành tổng nợ có nguy cơ mất vốn, bởi chúng khác nhau về bản chất và có thể có sự trùng lặp. Điều quan trọng hơn là khả năng thu hồi thực tế, đặc biệt đối với các khoản lãi đã ghi nhận nhưng chưa thu được tiền.
Lợi nhuận tăng, nhưng áp lực chưa rời khỏi bảng cân đối
Không chỉ chất lượng tài sản, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn của PVcomBank cũng có sự chênh lệch đáng chú ý. Đến cuối tháng 9/2026, dư nợ cho vay khách hàng đạt 171.451,95 tỷ đồng, tăng 13,05% so với đầu năm. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng chỉ tăng 3,64%, lên 208.893,17 tỷ đồng.
Tốc độ tăng dư nợ cho vay cao hơn tốc độ tăng tiền gửi khách hàng 9,41 điểm phần trăm. Chênh lệch tốc độ tăng trưởng cho thấy ngân hàng cần tiếp tục theo dõi khả năng cân đối nguồn vốn, trong bối cảnh tiền gửi khách hàng tăng chậm hơn dư nợ cho vay.
Trong 9 tháng, PVcomBank gia tăng huy động thông qua giấy tờ có giá, đạt 29.307,78 tỷ đồng, tăng 16,31%. Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác đạt 17.490,85 tỷ đồng, tăng 20,79%.
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ âm 5.590,88 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước âm 577,77 tỷ đồng. Nguyên nhân đáng chú ý là dòng tiền giải ngân cho vay khách hàng âm 19.796,36 tỷ đồng, vượt xa dòng tiền thuần huy động từ tiền gửi khách hàng dương 7.345,01 tỷ đồng. Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ âm 1.531,21 tỷ đồng khiến tiền và các khoản tương đương tiền giảm từ 29.376 tỷ đồng xuống còn 27.844,78 tỷ đồng, tương ứng giảm 5,21%.
Dòng tiền kinh doanh âm không đồng nghĩa ngân hàng mất khả năng thanh toán, bởi hoạt động cho vay và huy động vốn là những dòng tiền đặc thù của ngân hàng. Tuy nhiên, mức âm tăng mạnh vẫn là chỉ tiêu cần theo dõi trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động tiền gửi.
Các cam kết và khoản nợ tiềm ẩn ngoại bảng của PVcomBank cũng tăng 28,08%, từ 69.892,09 tỷ đồng lên 89.521,49 tỷ đồng.
Những khoản mục này không đồng nghĩa toàn bộ giá trị sẽ trở thành tổn thất thực tế hoặc nghĩa vụ phải chi trả ngay. Tuy nhiên, quy mô tăng nhanh cho thấy ngân hàng cần tiếp tục quản lý chặt các nghĩa vụ tiềm ẩn, rủi ro tín dụng và khả năng cân đối nguồn vốn.
Kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2026 của PVcomBank đặt ra một vấn đề đáng chú ý: lợi nhuận trước thuế tăng 35,15%, nhưng khả năng tạo lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng lại giảm hơn 56%. Trong khi đó, chi phí dự phòng giảm gần 90%, nợ nhóm 5 tăng gần 28% và lãi, phí phải thu nội bảng tăng hơn 36%.
Sự chênh lệch giữa các chỉ tiêu này cho thấy mức tăng lợi nhuận chưa phản ánh đầy đủ những áp lực đang tồn tại trong hoạt động ngân hàng. Việc giảm trích lập dự phòng giúp kết quả kinh doanh cải thiện trong kỳ, nhưng không đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng đã giảm tương ứng. Khi nợ nhóm 5 tiếp tục tăng, ngân hàng vẫn phải đối mặt với bài toán thu hồi vốn, xử lý tài sản bảo đảm và hạn chế tổn thất từ những khoản vay đã chuyển sang trạng thái khó thu hồi.
Đáng chú ý, khoản lãi và phí phải thu tăng thêm hơn 7.162 tỷ đồng trong 9 tháng cũng khiến khả năng thu hồi các khoản thu nhập đã ghi nhận trở thành vấn đề cần theo dõi. Thu nhập được hạch toán không đồng nghĩa với dòng tiền đã thực sự thu về; nếu quá trình thu hồi kéo dài, ngân hàng có thể phải tiếp tục dành nguồn lực để xử lý các khoản tồn đọng này.
Vì vậy, điều cần quan sát ở PVcomBank trong những quý tiếp theo không chỉ là lợi nhuận có tiếp tục tăng hay không, mà là ngân hàng có cải thiện được năng lực tạo lợi nhuận trước dự phòng, kiểm soát nợ xấu và thu hồi các khoản lãi phải thu hay không. Nếu những chỉ tiêu này chưa chuyển biến tương ứng, mức tăng lợi nhuận hiện tại sẽ khó phản ánh đầy đủ sức khỏe hoạt động và khả năng tăng trưởng bền vững của ngân hàng.
Với cổ đông và người gửi tiền, đây là những yếu tố cần được đặt bên cạnh con số lợi nhuận khi đánh giá triển vọng PVcomBank.

