Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi): Siết chặt quản lý thực phẩm theo chuỗi
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ siết chặt việc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứng, được thực hiện trong suốt quá trình kinh doanh thực phẩm. Trên cơ sở phân tích nguy cơ trong từng khâu của chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân...

Thực phẩm sẽ được quản lý từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng. Ảnh: Nhật Dương.
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đang được Bộ Y tế lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân, tập trung thực hiện 4 nhóm chính sách trọng tâm nhằm đổi mới toàn diện công tác quản lý an toàn thực phẩm.
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRUY XUẤT NGUỒN GỐC
TS Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), cho biết trọng tâm nội dung sửa đổi lần này là quản lý theo chuỗi nguy cơ, cải cách phương thức kiểm tra, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm và tăng cường quản lý đối với thức ăn đường phố, suất ăn tập thể.
Theo đó, việc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứng được thực hiện trong suốt quá trình kinh doanh thực phẩm, từ sản xuất ban đầu, trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ, chế biến, kinh doanh, lưu thông trên thị trường cho đến tận tay người tiêu dùng, trên cơ sở phân tích nguy cơ trong từng khâu của chuỗi cung ứng thực phẩm. Việc này, nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc để đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân.
Dự thảo cũng quy định, việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm phải được thực hiện trên nguyên tắc trung thực, khách quan, bảo đảm tính xác thực và khả năng xác minh, không gây cản trở lưu thông hàng hóa và thống nhất với quy định của pháp luật về hải quan, thương mại, thuế, phòng vệ thương mại và quy định khác của luật có liên quan. Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc xác minh nguồn gốc thực phẩm lưu thông trên thị trường.
Việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm thực hiện đối với tất cả thực phẩm lưu thông trên thị trường và trong các các trường hợp như: Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; khi phát hiện thực phẩm do mình kinh doanh không bảo đảm an toàn.
Việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm được thực hiện theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau”, bảo đảm khả năng giám sát, nhận diện được cơ sở kinh doanh trước đó và cơ sở kinh doanh tiếp theo trong chuỗi sản xuất, chế biến và cung ứng thực phẩm theo phương thức truy xuất do Chính phủ quy định.
Phương thức truy xuất nguồn gốc thực phẩm được thực hiện thông qua việc ghi chép truyền thống, hoặc định danh bằng mã số, mã vạch, mã QR và các công nghệ dữ liệu số hóa gắn trên bao bì, nhãn mác.
Theo dự thảo Luật, mã định danh trong truy xuất nguồn gốc thực phẩm bao gồm mã định danh vật phẩm (sản phẩm, lô hàng), và mã định danh địa điểm (cơ sở kinh doanh, kho bảo quản). Quy định này nhằm bảo đảm tính duy nhất, không trùng lặp trong chuỗi cung ứng thực phẩm toàn quốc và quốc tế.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm tự khởi tạo hoặc đăng ký sử dụng mã định danh theo các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế được thừa nhận, hoặc theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Mỗi lô thực phẩm khi xuất xưởng hoặc chuyển giao công đoạn phải được cấp một mã định danh lô hàng duy nhất, để phục vụ việc ghi nhận và liên kết dữ liệu.
ĐẨY MẠNH VAI TRÒ CỦA HẬU KIỂM
Theo Bộ Y tế, dự thảo Luật sửa đổi lần này cũng nhấn mạnh quy định về việc thực phẩm được kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình lưu thông trên thị trường.
Đối với một số nhóm thực phẩm phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn áp dụng trước khi lưu hành trên thị trường, thì tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng không thấp hơn quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Theo bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những điểm quan trọng của dự thảo là hướng tới thống nhất quản lý an toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương, đồng thời chuyển mạnh từ cách quản lý khi có vụ việc sang quản lý dựa trên nguy cơ và theo chuỗi.
Đây là hướng đi phù hợp, nhưng để thực hiện hiệu quả cần có một đầu mối quản lý thống nhất. Bà nhấn mạnh việc quản lý theo chuỗi và theo nguy cơ chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi có một cơ quan quản lý đầu mối thống nhất. Nếu khi xảy ra vấn đề vẫn phải để cơ quan này bàn với cơ quan kia, xác định lại nhiệm vụ, trách nhiệm của nhau thì rất khó thực hiện.
Bên cạnh đó là vai trò của hậu kiểm. Nếu xác định hậu kiểm quan trọng hơn tiền kiểm thì dự thảo Luật cần có những quy định tương xứng để tăng cường công tác này, đồng thời giảm bớt những thủ tục không cần thiết ở khâu tiền kiểm.
Do đó, cần quy định cụ thể hơn về cơ chế kiểm tra, nhất là trong bối cảnh hiện nay không còn tổ chức thanh tra chuyên ngành như trước, mà chủ yếu thực hiện thông qua hoạt động kiểm tra.
Về phía Bộ Y tế cũng kỳ vọng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại và minh bạch hơn cho công tác quản lý an toàn thực phẩm.
Việc chuyển mạnh sang quản lý theo nguy cơ, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường phân cấp và cải cách thủ tục hành chính không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, qua đó bảo vệ tốt hơn sức khỏe người dân.
Hiện Bộ Y tế đang giao Cục An toàn thực phẩm tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật, cùng với đó hoàn chỉnh khung dự thảo Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật sau khi được Quốc hội thông qua (dự kiến tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội Khóa XVI).
Trong đó, tập trung vào công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, công tác hậu kiểm, kiểm nghiệm theo quy chuẩn, tiêu chuẩn và Luật định.
Đồng thời, tiếp tục chú trọng công tác rà soát, nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức, chuyên gia và đại biểu để hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm chất lượng, tính thống nhất, đồng bộ, khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.











