Luật Dầu khí (sửa đổi): Mở không gian phát triển cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) mở thêm không gian phát triển mới cho ngành dầu khí, cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon, dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao.
Mở thêm không gian phát triển mới cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS)
Chiều 8/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về Luật Dầu khí (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội thống nhất cao về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Dầu khí năm 2022 nhằm khắc phục những bất cập, khoảng trống pháp lý đã trở thành vướng mắc, rào cản đối với hoạt động dầu khí. Việc sửa đổi tại thời điểm này có đầy đủ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn.
Đại biểu Lê Hữu Trí, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Khánh Hòa cho biết, dự thảo luật đã thiết kế nhiều chế định mới, tiến bộ, kiến tạo hành lang pháp lý để phát triển ngành dầu khí từ một ngành công nghiệp khai khoáng truyền thống thành một ngành công nghiệp năng lượng hiện đại, chuyển tư duy lập pháp sang quản trị tổng hợp tài nguyên và không gian biển.
Đồng thời, việc sửa đổi Luật cũng nhằm thể chế hóa đúng tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam và Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Đại biểu Lê Hữu Trí, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến thảo luận.
Đáng chú ý, đại biểu Lê Hữu Trí cho biết, dự thảo luật đã xác lập vai trò mới, mở rộng phạm vi hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam và ngành dầu khí, chuyển từ vị thế khắc phục khó khăn để duy trì sản lượng, sang kiến tạo đã phát triển bứt phá. Điều này là rất cần thiết khi sản lượng nhiều mỏ hiện hữu đang suy giảm, các mỏ mới hầu hết là mỏ cận biên, công tác tìm kiếm, thăm dò phải tiến ra vùng nước sâu, xa bờ, với điều kiện địa chất phức tạp và yếu tố nhạy cảm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trong khi giá dầu thô phụ thuộc thị trường thế giới và biến động khó lường.
Về phân cấp, phân quyền và giao quyền, dự thảo đã rút ngắn thực chất các thủ tục phê duyệt, chuyển một số thẩm quyền từ Thủ tướng Chính phủ về Bộ Công Thương, giao tập đoàn quyết định các nội dung chuyên môn, kỹ thuật trong quá trình thực hiện hợp đồng dầu khí, cho phép kế hoạch đại cương phát triển mỏ, kế hoạch khai thác sớm, kế hoạch phát triển mỏ thay thế, các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi theo pháp luật về xây dựng.
“Đây là cải cách thủ tục hành chính thực chất, giúp cắt bỏ tầng nấc trung gian, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp trong một lĩnh vực mà "một tháng chậm trễ có thể làm mất cơ hội hàng trăm triệu USD".
Đồng thời, dự thảo đã mở thêm không gian phát triển mới cho ngành, hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS), dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao, công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí trên nguyên tắc tận dụng công trình hạ tầng, cảng, đường ống và dữ liệu cảng, đường ống và dữ liệu điều tra, khảo sát mà ngành dầu khí đã đầu tư hàng chục năm”, đại biểu đánh giá và cho rằng, đây là một khoản tiết kiệm rất lớn cho nguồn lực quốc gia và là con đường ngắn nhất để Việt Nam đi vào lĩnh vực năng lượng ngoài khơi.
Tuy nhiên, để hoàn thiện dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu Lê Hữu Trí đề xuất cần làm rõ một số nội dung:
Trước hết, giao quyền phải đi liền với kiểm soát và với sự an toàn pháp lý cho người thực thi. Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam vừa là nhà thầu độc lập, vừa đại diện cho nước chủ nhà và vừa được giao thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước bằng chính nguồn lực, bộ máy và kinh phí của doanh nghiệp. Đây là mô hình đặc thù, phù hợp với tính chất của hoạt động dầu khí thượng nguồn.
Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 56 làm nền tảng pháp lý cho toàn bộ các quyền và nghĩa vụ phát sinh, đồng thời tách bạch rõ nhiệm vụ chính trị nhà nước giao với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, về chi phí đầu tư, đại biểu đề xuất, cần quy định rõ cơ chế bảo đảm quyền lợi của Tập đoàn và bảo toàn vốn Nhà nước khi phát sinh rủi ro tài chính trong thực hiện Điều 59, Điều 60 vừa bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước, vừa kiểm soát thống nhất nguồn lực, chống thất thoát, lãng phí.
Ngoài ra, đại biểu cũng kiến nghị nhiều nội dung liên quan đến quỹ bảo đảm nghĩa vụ thu dọn công trình dầu khí, không gian biển và vai trò của địa phương…
Khai thác hiệu quả hạ tầng dầu khí
Đại biểu Đinh Thị Hồng Minh, ĐBQH đoàn Quảng Ngãi đề nghị: Thứ nhất , tại khoản 3 Điều 31 Chính phủ làm rõ trình tự, thủ tục và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí với các bộ, ngành, chính quyền địa phương nơi có dự án, đồng thời cũng xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp.
Mục tiêu là rút ngắn thời gian xem xét, chấp thuận nhưng vẫn phải đảm bảo các vấn đề liên quan đến đất đai, liên quan đến môi trường, hạ tầng và các vấn đề liên quan đến địa phương phải được xem xét một cách đồng bộ, tránh tình trạng thủ tục được rút gọn nhưng dự án vẫn kéo dài do vướng mắc trong công tác phối hợp.

Đại biểu Đinh Thị Hồng Minh, ĐBQH đoàn Quảng Ngãi phát biểu thảo luận tại hội trường,
Thứ hai, về nguồn lực và khai thác hiệu quả hạ tầng dầu khí, đại biểu Đinh Thị Hồng Minh đề nghị, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế để khai thác hiệu quả các nguồn lực hạ tầng dầu khí hiện có, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội cũng như tạo nền tảng cho phát triển ngành công nghiệp năng lượng trong tương lai.
Đại biểu Đinh Thị Hồng Minh cho rằng, giá trị của ngành dầu khí không chỉ nằm ở tài nguyên được khai thác mà còn ở công nghệ, ở nguồn nhân lực, ở hạ tầng và năng lực công nghiệp được tích lũy trong quá trình phát triển.
Vì vậy, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần vừa tạo được hành lang pháp lý ổn định cho hoạt động dầu khí, vừa phát huy hiệu quả các nguồn lực đã được đầu tư để mở ra một không gian phát triển mới, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tiến bộ của Luật Dầu khí năm 2022 (hiện hành) và cụ thể hóa 5 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026, bao gồm: đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng và hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon.











