Luật Định danh và xác thực điện tử - Để hiện thực khách quan không bị đánh tráo

Việc xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu khách quan của tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Dự luật thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lập pháp, đặt nền tảng pháp lý để xác lập danh tính, kiểm chứng nguồn gốc, bảo đảm tính xác thực và toàn vẹn của thông tin, góp phần bảo vệ hiện thực khách quan, bảo vệ niềm tin xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia.

Định danh - xác lập danh tính của mọi đối tượng trong đời sống thực và môi trường số

Một trong những điểm tiến bộ nổi bật của dự thảo Luật là đã mở rộng đáng kể phạm vi các đối tượng được định danh. Theo Điều 7, đối tượng định danh không chỉ bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân mà còn bao gồm sản phẩm, hàng hóa, tài sản, dữ liệu, phần mềm, ứng dụng số, quyền sở hữu trí tuệ, sự kiện, giao dịch, hành vi, địa điểm và không gian.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung phiên họp nghe Tờ trình, báo cáo thẩm tra dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Ảnh: Phạm Thắng

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung phiên họp nghe Tờ trình, báo cáo thẩm tra dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Ảnh: Phạm Thắng

Đây là bước phát triển có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy định danh chủ yếu phục vụ quản lý con người sang tư duy định danh các đối tượng trong đời sống kinh tế, xã hội và môi trường số. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và quản trị quốc gia hiện đại.

Ý nghĩa của quy định này rất lớn. Một sản phẩm được định danh có thể gắn với thông tin truy xuất nguồn gốc, quá trình sản xuất và lưu thông; một tài sản được định danh có thể liên kết với chủ thể sở hữu, tình trạng pháp lý và lịch sử biến động; một giao dịch được định danh có thể xác định các bên tham gia, thời điểm thực hiện và trách nhiệm pháp lý; một sự kiện được định danh có thể tạo cơ sở để xác minh thời gian, địa điểm và những chủ thể liên quan.

Đặc biệt, Điều 8 và Điều 9 của dự thảo đã quy định mô hình và các hoạt động định danh điện tử, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai định danh đối với từng nhóm đối tượng. Các Điều 10, 11, 12 và 13 tiếp tục cụ thể hóa việc đăng ký, thu thập, kiểm tra, chuẩn hóa thông tin, tạo lập và cấp mã định danh. Đây là những quy định quan trọng, góp phần hình thành một hệ thống định danh có tổ chức, thống nhất và có khả năng kết nối.

Như vậy, định danh không đơn thuần là cấp một mã số hay tạo lập một tài khoản điện tử. Đó là quá trình xác lập căn tính của đối tượng, tạo nền tảng để phân biệt đối tượng này với đối tượng khác, hạn chế tình trạng nhầm lẫn, giả mạo và đánh tráo trong các quan hệ xã hội.

Xác thực điện tử – công cụ quan trọng bảo vệ sự thật trong kỷ nguyên số

Nếu định danh trả lời câu hỏi đối tượng là ai, là cái gì thì xác thực trả lời câu hỏi đối tượng có đúng với danh tính đã được xác lập hay không.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một cá nhân có thể bị giả mạo danh tính; một sản phẩm có thể bị đánh tráo xuất xứ; một giao dịch có thể bị sửa đổi; một hình ảnh, video có thể được tạo dựng bằng trí tuệ nhân tạo nhưng lại được trình bày như một sự kiện có thật. Nếu thiếu cơ chế xác thực đáng tin cậy, các chủ thể trong xã hội sẽ gặp khó khăn trong việc phân biệt thông tin chính xác với thông tin giả mạo.

Đáng lo ngại hơn, khi những thông tin sai lệch được tạo dựng có chủ đích, phát tán rộng rãi và lặp lại nhiều lần, chúng có thể làm thay đổi nhận thức của cộng đồng về một sự việc, một con người hoặc một vấn đề xã hội. Đây chính là nguy cơ đánh tráo hiện thực khách quan bằng những hiện thực được tạo dựng trong môi trường số.

Dự thảo Luật đã dành Chương III để quy định về xác thực điện tử, tạo nên sự gắn kết giữa định danh và xác thực trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất.

Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang trình bày tờ trình dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Ảnh: Phạm Thắng

Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang trình bày tờ trình dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Ảnh: Phạm Thắng

Theo đó, Điều 21 quy định đối tượng xác thực điện tử; Điều 22 quy định mô hình thực hiện hoạt động xác thực; Điều 23 xác định các hoạt động xác thực điện tử; Điều 24 quy định việc tiếp nhận yêu cầu và xác định đối tượng xác thực. Đặc biệt, Điều 25 quy định ba mức độ xác thực điện tử, tạo cơ sở để lựa chọn mức độ bảo đảm phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng hoạt động.

Các Điều 26, 27 và 28 tiếp tục quy định về lựa chọn phương tiện, kiểm tra phương tiện và ghi nhận, lưu trữ kết quả xác thực điện tử. Điều 29 xác định giá trị xác thực điện tử và việc sử dụng kết quả xác thực, qua đó tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả xác thực trong giao dịch và hoạt động quản lý.

Việc quy định tương đối đầy đủ về mô hình, phương thức, mức độ, quy trình và giá trị của xác thực điện tử là bước tiến quan trọng của dự thảo Luật. Những quy định này góp phần hình thành cơ chế kiểm chứng danh tính có độ tin cậy, giảm nguy cơ giả mạo, gian lận và sử dụng danh tính không hợp pháp.

Bảo đảm tính toàn vẹn và khả năng truy xuất – ngăn chặn sự đánh tráo thông tin

Một trong những giá trị quan trọng của định danh và xác thực điện tử là tạo khả năng ghi nhận, quản lý và truy xuất thông tin về đối tượng trong quá trình tồn tại, vận động và tham gia các quan hệ xã hội.

Điều 14 đã quy định về lưu trữ danh tính điện tử, trong đó đặt ra yêu cầu thông tin phải được lưu trữ đầy đủ, nhất quán, không bị thay đổi trái phép trong suốt quá trình quản lý, sử dụng. Điều 15 quy định việc cập nhật thông tin; Điều 16 quy định khai thác, sử dụng danh tính điện tử.

Đây là những quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm dữ liệu định danh được quản lý liên tục, chính xác và có giá trị sử dụng. Điều 17, Điều 18 và Điều 19 quy định về tạm dừng, khôi phục, chấm dứt hiệu lực danh tính điện tử và mã định danh.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Tấn Tới trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Ảnh: Quang Khánh

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Tấn Tới trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Ảnh: Quang Khánh

Những quy định trên giúp xác lập trạng thái pháp lý của danh tính điện tử trong từng thời điểm, hạn chế việc lợi dụng danh tính không còn hợp lệ để thực hiện giao dịch hoặc hành vi trái pháp luật.

Điều 20 về liên kết danh tính điện tử tiếp tục tạo cơ sở để xác lập mối quan hệ giữa các đối tượng đã định danh. Đây là yếu tố quan trọng trong quản lý xã hội hiện đại, bởi các đối tượng không tồn tại biệt lập mà luôn có những mối quan hệ về sở hữu, sử dụng, giao dịch và trách nhiệm pháp lý.

Điều 30 quy định về chứng thư điện tử xác nhận thông tin, Điều 31 quy định về xác thực và truy vết danh tính điện tử. Những quy định này tạo cơ sở để xác nhận thông tin, truy xuất danh tính trong các trường hợp cần thiết, hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm.

Có thể thấy, dự thảo Luật đã hình thành một chuỗi quy định tương đối đồng bộ, từ tạo lập danh tính, cấp mã định danh, lưu trữ, cập nhật, khai thác, liên kết đến xác thực, ghi nhận kết quả và truy vết. Đây chính là nền tảng pháp lý quan trọng để bảo đảm khả năng nhận diện và kiểm chứng đối tượng trong môi trường số.

Khi một đối tượng được định danh, các thông tin liên quan được quản lý có hệ thống và quá trình thay đổi được ghi nhận, khả năng đánh tráo danh tính, nguồn gốc và trạng thái pháp lý của đối tượng sẽ được hạn chế. Đó là giá trị đặc biệt quan trọng của Luật đối với việc bảo vệ tính xác thực của các quan hệ xã hội.

Xây dựng hạ tầng định danh và xác thực điện tử thống nhất, hiện đại, an toàn

Một điểm nổi bật nữa của dự thảo Luật là đã thiết lập cơ sở pháp lý tương đối toàn diện cho việc xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác Hệ thống định danh và xác thực điện tử.

Điều 32 quy định về xây dựng hệ thống, xác định các thành phần của hệ thống và yêu cầu bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu. Điều 33 quy định về thu thập, cập nhật, đồng bộ dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử. Điều 34 và Điều 35 quy định về khai thác, sử dụng dữ liệu định danh và xác thực điện tử.

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Trung Kiên - ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Trung Kiên - ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại

Những quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức khai thác thông tin theo thẩm quyền và phục vụ người dân, doanh nghiệp thuận lợi hơn.

Đặc biệt, dự thảo Luật đã thể hiện rõ yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu. Điều 4 xác lập các nguyên tắc định danh và xác thực điện tử, trong đó nhấn mạnh việc bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Điều 6 quy định các hành vi bị nghiêm cấm như chiếm đoạt, mua bán, cho thuê, cho mượn, sử dụng trái phép danh tính điện tử; can thiệp, phá hoại, làm gián đoạn hệ thống; giả mạo danh tính và làm sai lệch thông tin.

Đây là những quy định cần thiết nhằm bảo đảm hệ thống định danh và xác thực điện tử không chỉ vận hành hiệu quả mà còn an toàn, tin cậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia.

Định danh và xác thực điện tử – nền tảng quan trọng bảo vệ an ninh quốc gia

Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành một nguồn tài nguyên chiến lược, đồng thời là đối tượng cần được bảo vệ trước các nguy cơ xâm phạm an ninh quốc gia. Vì vậy, Luật Định danh và xác thực điện tử không chỉ có ý nghĩa đối với cải cách hành chính, phát triển kinh tế số và xã hội số mà còn góp phần xây dựng hạ tầng an ninh số quốc gia, nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi giả mạo, gian lận trong môi trường điện tử.

Điều 5 đã xác định chính sách của Nhà nước về định danh và xác thực điện tử, trong đó chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống. Các Điều 40, 41 và 42 quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ và quyền, nghĩa vụ của chủ thể danh tính điện tử, qua đó hình thành cơ chế phân định trách nhiệm trong quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống.

Đặc biệt, Điều 43 quy định trách nhiệm khi sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động định danh và xác thực điện tử. Đây là điểm mới có ý nghĩa thời sự và thực tiễn sâu sắc, bắt kịp xu hướng của khoa học, công nghệ hiện đại. Việc đưa trí tuệ nhân tạo vào phạm vi điều chỉnh cho thấy dự thảo Luật đã tiếp cận những vấn đề mới phát sinh từ sự phát triển của công nghệ, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro, bảo đảm tính minh bạch, khả năng giải thích và trách nhiệm của chủ thể sử dụng công nghệ.

Những quy định này góp phần hình thành cơ sở pháp lý quan trọng để phòng ngừa việc lợi dụng công nghệ nhằm giả mạo danh tính, làm sai lệch thông tin và thực hiện các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước và an ninh quốc gia.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Phạm Thắng

Bước tiến quan trọng hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Nhìn tổng thể, dự thảo Luật đã thể hiện bước hoàn thiện quan trọng về tư duy lập pháp và thiết kế chính sách. Việc ban hành đạo luật này không chỉ xuất phát từ yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn từ đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn: xây dựng một xã hội số có khả năng nhận diện đúng các đối tượng, kiểm chứng danh tính, truy xuất nguồn gốc và hạn chế những hành vi giả mạo, đánh tráo thông tin. Đó chính là bước tiến quan trọng hướng tới mục tiêu bảo vệ sự thật, bảo vệ niềm tin xã hội, để hiện thực khách quan không bị đánh tráo trong kỷ nguyên số.

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Trung Kiên - ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/luat-dinh-danh-va-xac-thuc-dien-tu-de-hien-thuc-khach-quan-khong-bi-danh-trao-10441399.html