Luật Định danh và xác thực điện tử: Mở rộng đối tượng định danh
Sáng 26/10, Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, mở rộng đối tượng định danh sang sản phẩm, hàng hóa, dữ liệu, địa điểm.
Định danh sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường thế giới
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật Định danh và xác thực điện tử. Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội trình bày Báo cáo tóm tắt thẩm tra dự án Luật.
Theo Tờ trình tóm tắt số 939/TTr-CP ngày 19/10/2026 của Chính phủ, thực tiễn quản lý đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng hoạt động định danh từ định danh cá nhân sang "định danh vạn vật", gồm phương tiện, địa điểm, hàng hóa, bất động sản, hạ tầng kết nối vạn vật, tài sản số. Luật được xem là công cụ pháp lý giúp phòng ngừa tội phạm mạng, xử lý triệt để SIM nặc danh, tài khoản ảo, lừa đảo trực tuyến, ngăn các hình thức giả mạo sinh trắc học tinh vi từ công nghệ trí tuệ nhân tạo.

Quốc hội nghe tờ trình,báo cáo thẩm tra và thảo luận về các dự án luật
Tờ trình nhấn mạnh Luật tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận danh tính điện tử xuyên biên giới và định danh sản phẩm. Chuẩn hóa dữ liệu theo chuẩn mực chung giúp doanh nghiệp Việt Nam chủ động đáp ứng các quy định khắt khe của thị trường thế giới, như yêu cầu về Hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số của Liên minh châu Âu; từ đó bảo vệ nguồn gốc hàng hóa nội địa, tháo gỡ điểm nghẽn thương mại, nâng năng lực cạnh tranh quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dự thảo Luật gồm 8 chương, 46 điều. Quán triệt tinh thần kiến tạo phát triển theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Luật hướng tới cắt giảm chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Dự thảo xác định 05 nhóm đối tượng định danh điện tử: cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất cùng đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm, dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm, không gian. Chính phủ quy định việc định danh, xác thực điện tử với đối tượng thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu.
Dự thảo quy định nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, không thu thập lại dữ liệu đã có. Nghiêm cấm sử dụng sinh trắc giả, hình ảnh giả tạo bằng công nghệ hoặc gian lận công nghệ khác để tạo lập, giả mạo danh tính điện tử. Toàn bộ quá trình định danh, xác thực điện tử có chế độ ghi nhận, lưu vết, truy vết cùng trách nhiệm giải trình.
Định danh điện tử thực hiện theo 02 phương thức. Nhà nước đầu tư hệ thống, nền tảng để trực tiếp định danh địa điểm, không gian; đối tượng thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận sở hữu, sử dụng; sản phẩm, hàng hóa rủi ro cao cùng đối tượng bí mật nhà nước. Tổ chức đủ điều kiện được tự đầu tư hệ thống, hạ tầng để định danh; với các đối tượng còn lại, dự thảo đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ định danh thương mại.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Luật Định danh và xác thực điện tử
Hệ thống định danh và xác thực điện tử gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Nền tảng định danh và xác thực điện tử; Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID); hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử; Cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia. Các hệ thống thông tin có liên quan được kết nối để phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công.
Mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử, cấp mã định danh là đối tượng xác thực điện tử. Dự thảo lập 03 mô hình xác thực: tập trung, trung gian, độc lập; bắt buộc liên kết, xác thực danh tính điện tử với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực.
Tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử phải đáp ứng điều kiện về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an ninh mạng, kết nối kỹ thuật với Hệ thống cùng bảo hiểm trách nhiệm.
Dự thảo quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài để dùng trong giao dịch xuyên biên giới. Để bảo đảm thống nhất, dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử, Luật Đầu tư. Chính phủ đề xuất Quốc hội cho ý kiến, thông qua dự án Luật tại Kỳ họp thứ hai.
Đề nghị phân định danh mục bắt buộc, danh mục khuyến khích
Báo cáo tóm tắt thẩm tra số 1094/BC-UBQPANĐN16 cho biết Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại nhất trí sự cần thiết ban hành Luật, nhằm luật hóa các quy định đang phân tán ở văn bản dưới luật, tạo nền tảng nhận diện số tin cậy, phòng, chống tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến. Hồ sơ đủ điều kiện trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ hai; bố cục 8 chương, 46 điều là phù hợp.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tơi báo cáo thẩm tra dự án luật
Ủy ban đánh giá việc mở rộng đối tượng định danh sang thực thể vật chất, đối tượng phi vật chất là phù hợp xu thế. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng phạm vi đối tượng tại Điều 7 quá rộng, đề nghị thu hẹp hoặc phân định rõ danh mục bắt buộc với danh mục khuyến khích; cân nhắc tính khả thi khi định danh tệp dữ liệu, ứng dụng, sự kiện, hành vi; đánh giá kỹ nguy cơ lộ lọt với đối tượng chứa bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh. Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị đánh giá kỹ tính khả thi về hạ tầng công nghệ, tài chính, nhân lực khi áp dụng định danh với thực thể vật chất.
Về trường thông tin, có ý kiến cho rằng việc giao cơ quan chuyên ngành hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ tự quyết định các trường thông tin thu thập dễ dẫn tới lạm dụng, xâm phạm quyền riêng tư; đề nghị bổ sung quy định khung về trường thông tin được phép thu thập. Với liên kết danh tính điện tử (Điều 20), Ủy ban đề nghị chỉ bắt buộc với giao dịch mà pháp luật chuyên ngành quy định bắt buộc, bảo đảm nguyên tắc cần thiết, tương xứng với mức độ rủi ro của giao dịch.
Ủy ban nhất trí chính sách xã hội hóa dịch vụ định danh, xác thực điện tử, song đề nghị Nhà nước ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu, chuẩn dữ liệu dùng chung để tránh đầu tư dàn trải; bổ sung trách nhiệm pháp lý, cơ chế bồi thường thiệt hại của tổ chức cung cấp dịch vụ khi để lộ lọt dữ liệu hoặc định danh, xác thực sai lệch. Với tạm dừng, hủy bỏ danh tính điện tử, cơ quan thẩm tra đề nghị quy định thẩm quyền, căn cứ ngay trong Luật, thời hạn tối đa tạm dừng, trách nhiệm bồi thường nếu xử lý sai.
Về hợp tác quốc tế, Ủy ban đề nghị rà soát quy định công nhận danh tính, chữ ký số, kết quả xác thực nước ngoài cho tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; quy định cơ chế với nền tảng số xuyên biên giới cung cấp dịch vụ tại Việt Nam trong liên kết, xác thực danh tính người dùng. Với phí khai thác dữ liệu, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát cho thống nhất với Luật Dữ liệu, Luật Phí và lệ phí, tính mức phí hợp lý cho người dân, doanh nghiệp; cho phép giải quyết thủ tục bằng giấy tờ truyền thống khi có sự cố kỹ thuật hoặc ở địa bàn chưa bảo đảm hạ tầng số.
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đề nghị quy định rõ giá trị pháp lý chuyển tiếp với tài khoản VNeID, mã định danh, danh tính điện tử, chữ ký số đã cấp; xác định lộ trình chuẩn hóa hạ tầng, mã định danh đang vận hành để không gián đoạn giao dịch; thời điểm có hiệu lực đủ để các chủ thể chuẩn bị hạ tầng, nhân lực.
