Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất): Làm rõ cơ chế phân bổ, tăng tính chủ động cho địa phương
Chiều 5/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), trong khuôn khổ Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Nhiều đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế phân bổ ngân sách, tăng tính chủ động cho địa phương, kiểm soát chặt việc sử dụng nguồn tăng thu và chuyển nguồn, đồng thời gắn trách nhiệm quản lý ngân sách với hiệu quả thực tế.
Làm rõ cơ chế phân bổ ngân sách
Phát biểu tại hội trường, đại biểu Hoàng Quang Hàm (Đoàn ĐBQH tỉnh Tây Ninh) đánh giá cao công tác chuẩn bị dự thảo luật, đồng thời đề nghị bổ sung các chỉ tiêu định lượng để giám sát vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.

Đại biểu Hoàng Quang Hàm (Đoàn ĐBQH tỉnh Tây Ninh).
Theo đại biểu, khi trình phê duyệt kế hoạch tài chính 5 năm, cần xác định tỷ trọng thu ngân sách Trung ương trong tổng thu ngân sách nhà nước và tỷ trọng chi ngân sách Trung ương trong tổng chi ngân sách nhà nước. Để bảo đảm tính chủ động cho địa phương, cần bổ sung khái niệm thời kỳ ổn định ngân sách hoặc luật hóa việc giữ ổn định tỷ lệ phân chia và số bổ sung cân đối trong kỳ kế hoạch 5 năm, chỉ điều chỉnh khi Quốc hội quyết định.
Về các khoản dự toán ngân sách Trung ương chưa phân bổ chi tiết, đại biểu cho rằng điều kiện để lại phân bổ sau còn rộng, thiếu mức trần tối đa. Đại biểu đề xuất chỉ áp dụng đối với các khoản đã có quyết định, chủ trương của cấp có thẩm quyền hoặc chính sách đã ban hành nhưng chưa xác định cụ thể đối tượng thụ hưởng, mức chi.
Mức dự toán chưa phân bổ chi tiết cần được khống chế không quá 5% tổng chi ngân sách Trung ương, tương đương mức tối đa của dự phòng ngân sách, đồng thời quy định thời hạn phân bổ. Quá thời hạn, dự toán phải được hủy nhằm giữ nghiêm kỷ luật ngân sách.
Đối với kế hoạch đầu tư công trung hạn từ ngân sách Trung ương, đại biểu đề nghị quy định thời gian giao vốn chậm nhất 30 ngày kể từ ngày Quốc hội ban hành nghị quyết về kế hoạch tài chính 5 năm. Việc điều chỉnh dự toán cần tuân thủ nguyên tắc “ai quyết định, người đó điều chỉnh”. Những điều chỉnh làm thay đổi tổng thu, tổng chi hoặc chuyển chi đầu tư sang chi thường xuyên phải báo cáo Quốc hội, bảo đảm thẩm quyền của cơ quan dân cử.
Từ thực tiễn địa phương, đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ) đề nghị quy định rõ trách nhiệm của các bộ quản lý chuyên ngành trong việc ban hành định mức chi phí tư vấn, quản lý dự án đối với các dự án đặc thù không có cấu phần xây dựng. Đây là cơ sở để địa phương phê duyệt dự toán, đẩy nhanh mua sắm trang thiết bị phục vụ dân sinh.

Đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ).
Đối với việc bổ sung cân đối ngân sách sau sáp nhập đơn vị hành chính, đại biểu cho rằng quy mô dân số và địa bàn tăng lên nhưng nếu áp dụng định mức cào bằng hoặc cắt giảm chi thường xuyên cơ học theo tỷ lệ tinh giản biên chế cấp xã sẽ khó đáp ứng nhu cầu thực tế.
Đại biểu kiến nghị áp dụng hệ số khuyến khích theo diện tích, dân số sau sáp nhập và có lộ trình chuyển tiếp, bảo đảm tổng dự toán chi thường xuyên của đơn vị hành chính mới không thấp hơn trước sáp nhập trong ít nhất 5 năm. Đồng thời, cần nghiên cứu để lại toàn bộ hoặc tối thiểu 70% kinh phí chi thường xuyên tiết kiệm được từ quỹ phụ cấp, quỹ lương do tinh giản biên chế cho ngân sách xã, phục vụ đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số và chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức cấp xã.
Về bố trí vốn, đại biểu đề nghị không tính thời gian bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng và thời gian chậm tiến độ do nguyên nhân bất khả kháng vào thời gian bố trí vốn thực hiện dự án. Với chuyển nguồn ngân sách, đại biểu kiến nghị cho phép các dự án nhóm A, B, C đã có khối lượng nghiệm thu hoặc đã ký hợp đồng thi công hợp pháp đến ngày 31/12 được chuyển nguồn sang năm sau, tránh hủy dự toán cơ học và phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.
Gắn quản lý ngân sách với kết quả đầu ra
Phát biểu góp ý vào dự án Luật, đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn ĐBQH TP Đồng Nai) nhấn mạnh yêu cầu sử dụng ngân sách hiệu quả, đề nghị làm rõ cơ chế quản lý theo kết quả đầu ra và hạch toán hiệu quả.
Theo đó, dự toán của chương trình, nhiệm vụ cần xác định sản phẩm đầu ra chủ yếu, chất lượng, thời hạn hoàn thành và kinh phí tương ứng. Với đầu tư công, trước khi quyết định đầu tư phải xác định mục tiêu, chỉ tiêu kết quả và tính toán chi phí trong toàn bộ vòng đời dự án, bao gồm vận hành, bảo trì và lợi ích dự kiến.

Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn ĐBQH TP Đồng Nai).
Đại biểu đề nghị làm rõ nội hàm đánh giá tại Điều 84 để địa phương có cơ sở triển khai. Đánh giá giữa kỳ cần xác định khả năng hoàn thành; đánh giá kết thúc đối chiếu sản phẩm với mục tiêu; đánh giá tác động phải chứng minh lợi ích thực tế sau thời gian khai thác. Đồng thời, cần làm rõ cách hình thành tổng nguồn lực đối với các chương trình mục tiêu quốc gia.
Đại biểu cũng kiến nghị bổ sung cơ chế xử lý trách nhiệm khi kết quả đánh giá phát hiện tồn tại, vi phạm. Cơ quan có thẩm quyền cần quyết định biện pháp khắc phục hoặc dừng chương trình, dự án, kèm thời hạn cụ thể.
Đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cấp bách phát sinh nhưng chưa được bố trí dự toán, đại biểu đề nghị cho phép ngân sách Trung ương bổ sung mục tiêu cho địa phương hoặc bổ sung dự toán cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để triển khai kịp thời, gắn với cơ chế kiểm tra, báo cáo chặt chẽ.
Liên quan đến quản lý dự toán chi còn lại và nguồn tăng thu, đại biểu Trần Anh Tuấn, Đoàn ĐBQH TP Hồ Chí Minh, đề nghị không xem dự toán chi chưa phân bổ hết của năm nay là nguồn để giao thêm nhiệm vụ chi cho năm sau, bởi có thể làm giảm tính sát đúng trong lập dự toán.
Đại biểu đồng tình với việc cho phép Chính phủ và UBND các cấp chủ động sử dụng nguồn tăng thu trong năm, nhưng cần xác định rõ đây là khoản thu vượt tổng dự toán cả năm, không phải chênh lệch do tiến độ thu từng tháng, từng quý. Không nên sử dụng các khoản tăng thu mang tính một lần, không thường xuyên để quyết định nhiệm vụ chi làm phát sinh nghĩa vụ tài chính kéo dài nhiều năm.
Về gia hạn bố trí vốn đầu tư công, đại biểu đề nghị trước khi quyết định phải làm rõ nguyên nhân chậm tiến độ, số vốn đã giải ngân, số vốn còn lại và thời gian hoàn thành cụ thể.
Đại biểu Trịnh Trung Tín (Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang), đánh giá cơ chế cho phép bố trí chi thường xuyên từ cả nguồn chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên đối với nhiệm vụ mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình, chuẩn bị đầu tư và quy hoạch là cải cách thiết thực. Tuy nhiên, cần quy định mức trần chi thường xuyên đối với các hạng mục cải tạo, sửa chữa để bảo đảm minh bạch, tránh lợi dụng nguồn chi thường xuyên nhằm né tránh quy trình quản lý đầu tư công.
Về phân chia nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đại biểu đề nghị cân nhắc đối với khoản tương ứng chi phí bồi thường, hỗ trợ tái định cư do nhà đầu tư tự nguyện ứng trước. Theo đại biểu, đây là khoản chi phí được hoàn trả thông qua cơ chế khấu trừ, không phải khoản thu thực tế vào ngân sách nhà nước. Việc điều tiết một tỷ lệ nhất định về ngân sách Trung ương trong trường hợp ghi thu - ghi chi có thể tạo áp lực cho ngân sách địa phương, nhất là những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách.

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa).
Góp ý về dự án luật, đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa) đề nghị việc hợp nhất pháp luật không chỉ dừng ở giảm đầu mối, thủ tục, mà cần thống nhất tư duy quản trị, quy trình quản lý và trách nhiệm đối với nguồn lực quốc gia.
Đại biểu kiến nghị làm rõ điều kiện, phạm vi và thời hạn phân bổ các khoản chi ngân sách Trung ương chưa phân bổ chi tiết; bổ sung tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công, công khai kết quả đánh giá. Việc sử dụng nguồn tăng thu để bổ sung vốn đầu tư công cần giới hạn ở những dự án đủ thủ tục, bảo đảm cân đối vốn và có khả năng thực hiện, giải ngân.
Đối với chuyển nguồn ngân sách, cần quy định rõ trường hợp, thời hạn và trách nhiệm của người quyết định; không coi chuyển nguồn là giải pháp mặc nhiên để xử lý chậm giải ngân. Đồng thời, phải bảo đảm nguồn lực trước khi quyết định đầu tư và làm rõ trách nhiệm của cơ quan thẩm định, người quyết định đầu tư.
Theo đại biểu Lê Hữu Trí, mục tiêu hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước không chỉ là giải ngân hết vốn, mà phải bảo đảm mỗi đồng ngân sách được sử dụng đúng mục tiêu, đúng thời điểm, tạo giá trị thiết thực cho nền kinh tế và đời sống Nhân dân.



