Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) phải hướng tới bảo vệ thực chất quyền lợi của trẻ em

Thảo luận về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, bà Chamaléa Thị Thủy - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo, đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa đã mang đến những góc nhìn sâu sắc từ thực tiễn vùng dân tộc thiểu số. Để làm rõ hơn các đề xuất nhằm bảo vệ quyền lợi cho trẻ em và các gia đình yếu thế, Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa đã có cuộc trao đổi cùng đại biểu.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy phát biểu thảo luận.

Đại biểu Chamaléa Thị Thủy phát biểu thảo luận.

- Thưa đại biểu, đại biểu đánh giá như thế nào về sự cần thiết của việc sửa đổi Luật Nuôi con nuôi lần này?

Tôi hoàn toàn tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi Luật Nuôi con nuôi. Việc sửa đổi lần này không chỉ dừng lại ở việc khắc phục những vướng mắc, hạn chế phát sinh sau hơn một thập kỷ thi hành Luật năm 2010, mà còn nhằm đáp ứng các yêu cầu bảo vệ trẻ em trong bối cảnh xã hội mới. Hiện nay, các quan hệ gia đình ngày càng trở nên đa dạng, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đòi hỏi khung pháp lý chặt chẽ hơn, đồng thời bộ máy quản lý tại các địa phương cũng đang được tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Chúng ta cần khẳng định rằng việc nuôi con nuôi không đơn thuần là một thủ tục hành chính mang tính đăng ký, mà là cả một quá trình pháp lý và xã hội nhằm kiến tạo cho trẻ một môi trường gia đình thực sự an toàn, ổn định và bền vững. Tôi rất ghi nhận dự thảo Luật đã thể hiện rõ quan điểm lấy lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trung tâm, từ việc ưu tiên trẻ sống cùng gia đình gốc đến việc xem xét yếu tố dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ khi ghép trẻ hay quy định về lực lượng làm công tác xã hội. Tuy nhiên, nếu chính sách chỉ đưa ra điều kiện chung mà thiếu đi cơ chế hỗ trợ đi kèm, thì những đối tượng khó khăn nhất như người nghèo hay đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa sẽ là những người khó tiếp cận chính sách nhất.

- Từ thực tế đời sống miền núi tại Khánh Hòa, đại biểu có đề xuất gì đối với quy định về điều kiện giải quyết nuôi con nuôi liên quan đến hoàn cảnh của gia đình gốc?

Dự thảo Luật quy định việc giải quyết nuôi con nuôi chỉ được thực hiện khi trẻ không được hoặc không thể sống cùng gia đình gốc, đây là một hướng đi đúng đắn. Dẫu vậy, cụm từ “không thể sống cùng gia đình gốc” cần phải được định nghĩa bằng các tiêu chí pháp lý hết sức chặt chẽ.
Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như nhiều khu vực tại Khánh Hòa, không ít gia đình còn có thu nhập chưa ổn định, nhà ở chưa kiên cố, cha mẹ phải đi làm xa hoặc tạm gửi con cho người thân chăm sóc. Những hoàn cảnh thiếu hụt vật chất đó hoàn toàn không đồng nghĩa với việc cha mẹ thiếu tình thương hay không đủ năng lực chăm sóc con. Thiếu điều kiện vật chất có thể bù đắp bằng sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng, nhưng tình thân gia đình thì không gì có thể thay thế được.

Vì vậy, tôi đề nghị Luật phải khẳng định ngay nguyên tắc: không lấy nghèo đói hay khó khăn vật chất làm căn cứ duy nhất để kết luận trẻ không thể sống cùng gia đình gốc. Trước khi quyết định chuyển trẻ sang một gia đình khác, cơ quan chức năng và cơ sở trợ giúp xã hội phải có trách nhiệm đánh giá toàn diện, kết nối các biện pháp hỗ trợ gia đình, ngoại trừ trường hợp đặc biệt phải bảo vệ trẻ khẩn cấp. Sửa đổi Luật là để nâng đỡ các gia đình nghèo vươn lên nuôi con, chứ tuyệt đối không làm họ mất đi cơ hội được gắn bó và chăm sóc chính con đẻ của mình.

- Tại điểm d khoản 1 Điều 14 quy định người nhận con nuôi phải bảo đảm điều kiện kinh tế, sức khỏe và chỗ ở. Làm sao để quy định này phù hợp với sinh kế thực tế của người dân vùng nông thôn, miền núi, thưa đại biểu?

Đã là quy định pháp luật thì phải chuẩn mực để bảo đảm tương lai cho trẻ, nhưng chuẩn mực không có nghĩa là áp dụng máy móc một bộ tiêu chí đô thị cho tất cả mọi địa bàn.

Một người nông dân ở miền núi có thể không có bảng lương hay hợp đồng lao động, nhưng sinh kế nông nghiệp của họ lại rất bền vững. Một mái nhà truyền thống của đồng bào có thể không nguy nga như nhà ở thành thị nhưng vẫn bảo đảm sự an toàn và ấm cúng cho trẻ. Ngay cả người khuyết tật, nếu họ có khả năng chăm sóc và nguồn hỗ trợ hợp pháp thì không nên mặc nhiên bị coi là không đủ điều kiện làm cha, làm mẹ.

Tôi kiến nghị Điều 14 cần bổ sung nguyên tắc đánh giá dựa trên khả năng chăm sóc thực tế, tính ổn định của sinh kế và độ an toàn của nơi ở, thay vì đồng nhất điều kiện kinh tế với mức độ giàu có. Đồng thời, đối với trường hợp nhận con nuôi trong phạm vi gia đình, dù được miễn một số điều kiện về tuổi hay kinh tế, chính quyền vẫn phải đánh giá mức độ an toàn của trẻ. Quan hệ họ hàng là yếu tố thuận lợi nhưng không phải là thước đo tuyệt đối đảm bảo rằng trẻ sẽ được bảo vệ tốt nhất.

- Khi lấy ý kiến đồng ý cho con làm con nuôi (Điều 21), đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số không thạo tiếng Việt, chúng ta cần cơ chế gì để tránh tình trạng thủ tục mang tính hình thức?

Đây là vấn đề tôi đặc biệt trăn trở. Dự thảo Luật yêu cầu việc đồng ý phải tự nguyện, bằng văn bản và được tư vấn đầy đủ về hệ quả pháp lý. Nhưng đối với người dân vùng dân tộc thiểu số không thạo tiếng Việt hoặc không biết đọc, một chữ ký hay vết điểm chỉ trên mẫu văn bản in sẵn chưa thể chứng minh họ đã thực sự hiểu.

Bà con cần phải phân biệt rõ ràng giữa việc cho con làm con nuôi với việc nhờ người thân chăm sóc tạm thời. Họ phải hiểu rõ các quyền, nghĩa vụ gia đình sẽ thay đổi hoàn toàn kể từ ngày giao nhận và thời hạn họ được quyền thay đổi ý kiến. Nếu hoạt động tư vấn chỉ thực hiện theo một mẫu tiếng Việt chung chung thì chúng ta mới dừng lại ở việc "làm đủ thủ tục" chứ chưa "bảo đảm đủ quyền" cho người dân.

Do đó, Luật cần quy định rõ trách nhiệm cung cấp phiên dịch, giải thích bằng ngôn ngữ và hình thức phù hợp, đồng thời có bước kiểm tra lại mức độ nhận thức trước khi ghi nhận sự đồng ý. Toàn bộ chi phí này phải do Ngân sách Nhà nước bảo đảm, không để trở thành gánh nặng tài chính cho người nghèo. Tương tự, việc lấy ý kiến của trẻ từ đủ 7 tuổi cũng phải bảo đảm sự tinh tế, phù hợp với độ tuổi và khả năng giao tiếp để trẻ được thể hiện tâm tư thực sự, không bị áp lực hay dẫn dắt từ người lớn.

- Để chính sách nuôi con nuôi thực sự đi vào cuộc sống, đại biểu có kỳ vọng gì về việc giữ gìn bản sắc văn hóa cho trẻ cũng như năng lực thực thi tại cấp cơ sở?

Bản sắc dân tộc của một đứa trẻ không dừng lại ở thời điểm ghép trẻ mà là một dòng chảy xuyên suốt gắn liền với tiếng mẹ đẻ, văn hóa và cộng đồng nguồn gốc. Người nhận con nuôi cần được tư vấn và hỗ trợ để tôn trọng, duy trì các liên hệ văn hóa lành mạnh cho trẻ. Khi rà soát việc thay đổi thông tin dân tộc hay quê quán trên giấy khai sinh, cần hết sức cẩn trọng để không xóa mất dấu vết nguồn gốc của trẻ.

Về năng lực thực thi, giao thẩm quyền cho UBND cấp xã là phù hợp vì đây là cấp gần dân nhất. Tuy nhiên, tại địa bàn miền núi Khánh Hòa với địa hình rộng lớn, việc chuyển đổi số phải luôn song hành với phương thức tiếp nhận trực tiếp và các chuyến hỗ trợ lưu động để người dân không có thiết bị công nghệ không bị gạt ra ngoài chính sách. Cán bộ xã cũng phải được đào tạo bài bản về kỹ năng đánh giá hoàn cảnh, nhận diện nguy cơ mua bán trẻ em và bảo mật thông tin.

Cuối cùng, công tác theo dõi sau nhận nuôi tại Điều 22 không được biến thành công việc hành chính nộp báo cáo định kỳ. Mọi sự phối hợp giữa chính quyền, nhà trường và cộng đồng phải giữ bảo mật tuyệt đối thông tin riêng tư, tránh vô tình khiến trẻ chịu sự kỳ thị hay áp lực không đáng có. Những nguyên tắc cốt lõi này cần được luật hóa ngay trong Luật chứ không nên phó mặc hoàn toàn cho các văn bản dưới luật. Có như vậy, chúng ta mới loại bỏ được rào cản, hỗ trợ người yếu thế bình đẳng và thực sự đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em vào từng quyết định.

- Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!

THÚY SƯƠNG (Thực hiện)

Nguồn Khánh Hòa: http://www.baokhanhhoa.vn/chinh-tri/quoc-hoi-hdnd/202610/luat-nuoi-con-nuoi-sua-doi-phai-huong-toi-bao-ve-thuc-chat-quyen-loi-cua-tre-em-0864eb1/