Luật Quản lý thuế (sửa đổi): Đổi mới phương thức quản lý thuế
Luật Quản lý thuế (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 được thông qua tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV với nhiều nội dung mới về quản lý thuế, bảo đảm tính linh hoạt và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính.
Quản lý theo phân nhóm người nộp thuế
Luật Quản lý thuế (sửa đổi) gồm 9 Chương, 53 Điều, phù hợp chủ trương “luật hóa nguyên tắc, chính sách lớn; quy định chi tiết giao Chính phủ” theo Kết luận 119-KL/TW ngày 20/01/2025. Luật quy định đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và các nguyên tắc quản lý thuế thuộc thẩm quyền Quốc hội; đồng thời, giao Chính phủ và Bộ Tài chính quy định chi tiết các nội dung kỹ thuật, nghiệp vụ thường xuyên thay đổi, phù hợp tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW nhằm bảo đảm tính linh hoạt và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính.
Một trong những nội dung mới quan trọng của Luật là bổ sung quy định về phân nhóm người nộp thuế, bổ sung nguyên tắc cơ quan thuế. Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung cho biết, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan thuế chuyển từ phương thức quản lý thuế theo chức năng như trước đây sang quản lý theo đối tượng người nộp thuế kết hợp với chức năng.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Quản lý thuế (sửa đổi) ngày 10/12/2025. Ảnh: Quang Khánh
Cùng với đó, Luật đã bổ sung quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện kê khai, tính thuế theo tỷ lệ % trên doanh thu, thuế suất và phương pháp tính thuế quy định của các luật thuế, được cơ quan thuế hỗ trợ thực hiện khai thuế trên cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế và thông tin do người nộp thuế cung cấp.
Luật cũng bổ sung quy định nguyên tắc hợp tác quốc tế và quản lý thuế quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế và bảo vệ quyền đánh thuế hợp pháp của Việt Nam. Bổ sung quy định quản lý tuân thủ với chế độ ưu tiên cho người nộp thuế tuân thủ tốt; hệ thống thông tin tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ quan thuế được mua cơ sở dữ liệu thương mại; bảo đảm an toàn thông tin; người nộp thuế không bị xử phạt khi sự cố hệ thống dẫn đến không thực hiện được nghĩa vụ đúng hạn.
Một nội dung đáng chú ý khác là Luật sửa đổi quy định về khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp về thuế; bổ sung quy định giải quyết tranh chấp về thuế có yếu tố nước ngoài.
Cụ thể, tại Điều 41 Chương VIII của Luật đã quy định về khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp về thuế như sau:
Người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý thuế, người có thẩm quyền của cơ quan quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Người khiếu nại được biết trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trên Hệ thống thông tin quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
Cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế, công chức quản lý thuế hoặc tổ chức, cá nhân khác.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Tranh chấp về thuế có yếu tố nước ngoài giữa người nộp thuế là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc Việt Nam với cơ quan quản lý thuế Việt Nam, liên quan đến nghĩa vụ thuế phát sinh tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài có thể được giải quyết thông qua: Trình tự, thủ tục khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại; Trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;Cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều ước quốc tế về thuế; hợp đồng, thỏa thuận và bảo lãnh cam kết của Chính phủ và điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết (nếu có).
Bên cạnh đó, Điều 42 cũng quy định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết khiếu nại về thuế.
Cụ thể, cơ quan quản lý thuế nhận được khiếu nại về việc thực hiện pháp luật về thuế có quyền yêu cầu người khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại; nếu người khiếu nại từ chối cung cấp hồ sơ, tài liệu thì có quyền từ chối xem xét giải quyết khiếu nại.
Cơ quan quản lý thuế phải hoàn trả số tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt thu không đúng cho người nộp thuế, bên thứ ba trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với vụ việc khiếu nại phức tạp, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế là người giải quyết khiếu nại thực hiện tham vấn các cơ quan, tổ chức có liên quan, bao gồm cả khiếu nại lần đầu. Khi thực hiện việc tham vấn, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế phải ban hành quyết định thành lập Hội đồng tham vấn. Hội đồng tham vấn hoạt động theo nguyên tắc biểu quyết theo đa số. Kết quả biểu quyết là cơ sở để thủ trưởng cơ quan quản lý thuế tham khảo khi ra quyết định xử lý khiếu nại. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế là người ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định xử lý khiếu nại.
Chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý thuế
Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung cho biết, một nội dung trọng tâm của Luật Quản lý thuế (sửa đổi) là thực hiện chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý thuế (trên tất cả các phương diện từ phương pháp quản lý, tổ chức bộ máy nguồn nhân lực đến cách thức thực hiện các thủ tục hành chính đảm bảo an toàn bảo mật thông tin trên môi trường số), đổi mới toàn diện thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình, xây dựng cơ quan thuế điện tử trên nền tảng dữ liệu lớn của người nộp thuế được tích hợp tập trung, tự động hóa các quy trình, chức năng quản lý thuế, ứng dụng AI trong hỗ trợ tuân thủ, xử lý nghiệp vụ, kiểm tra, xử phạt, cưỡng chế, hoàn thuế tự động. Kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối và chia sẻ thông tin với các cơ quan, tổ chức có liên quan. Bổ sung quy định về giá trị pháp lý của các quyết định hành chính điện tử, việc ban hành quyết định tự động từ ứng dụng hệ thống (để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Đề án 06).

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế (sửa đổi)
Bên cạnh đó, Luật đã sửa đổi, hoàn thiện một số quy định để đảm bảo rõ ràng, áp dụng pháp luật thống nhất, bảo đảm các quyền của người nộp thuế trong đó, tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về quyền và nhiệm vụ của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế trong công tác quản lý thuế; về nguyên tắc quản lý thuế; về bảo mật, công khai thông tin người nộp thuế; về hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế.
Luật cũng đã sửa đổi, bổ sung quy định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quản lý thuế, tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về xây dựng lực lượng quản lý thuế; về đăng ký thuế, mã số thuế; về khai thuế, tính thuế; về xử lý thuế nộp thừa; về xử lý tiền chậm nộp; về hoàn thuế; về miễn, giảm thuế; về khoanh nợ và xóa nợ; về kiểm tra thuế và biện pháp áp dụng trong kiểm tra thuế; về thu thập thông tin và tạm giữ tài liệu liên quan đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế; về ấn định thuế; về hóa đơn điện tử; Chứng từ điện tử.
Cùng với đó, Luật mới phân quyền cho Chính phủ tại 32 Điều và phân quyền cho Bộ Tài chính tại 24 Điều theo đúng chủ trương tại Nghị quyết số 66-NQ/TW. "Các nội dung sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật bảo đảm không phát sinh thủ tục hành chính mới, đảm bảo liên thông, toàn trình trên môi trường điện tử", Thứ trưởng Bộ Tài chính khẳng định.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Riêng quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại Điều 26 của Luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 theo đúng chủ trương xóa bỏ thuế khoán theo Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15.












