Luật sư băn khoăn khi Viện Kiểm sát, thay mẹ, khởi kiện nâng mức cấp dưỡng cho con

Chị Q. và anh C. ly hôn từ năm 2014. Người con chung sinh năm 2013 được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, còn người cha có nghĩa vụ cấp dưỡng 750.000 đồng mỗi tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Sau hơn 10 năm, mức cấp dưỡng này được cho là không còn phù hợp với nhu cầu ăn ở, học tập và chăm sóc sức khỏe của trẻ.

 Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TPHCM)

Luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TPHCM)

Ngày 19/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 thành phố Cần Thơ thông báo để người mẹ thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng. Người mẹ không trực tiếp khởi kiện mà đề nghị Viện kiểm sát đứng ra thực hiện. Ngày 21/7/2026, Viện kiểm sát ban hành quyết định khởi kiện. Tại phiên tòa ngày 14/8/2026, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, buộc người cha cấp dưỡng 2 triệu đồng mỗi tháng kể từ ngày xét xử cho đến khi người con đủ 18 tuổi.

Nếu chỉ nhìn vào mức tiền, đây là một vụ án hôn nhân và gia đình không quá phức tạp. Nhưng nếu nhìn vào chủ thể khởi kiện, vụ án lại đánh dấu một sự dịch chuyển đáng kể trong tư duy tố tụng dân sự. Quyền lợi của người yếu thế không còn hoàn toàn phụ thuộc vào việc họ hoặc người đại diện có đủ khả năng đưa vụ việc ra Tòa án hay không. Nhà nước, thông qua Viện kiểm sát, có thể chủ động sử dụng con đường tố tụng để bảo vệ quyền dân sự đang bị xâm phạm.

Đây là bước tiến cần thiết. Trong nhiều trường hợp, quyền dân sự tồn tại trên giấy nhưng người có quyền lại không đủ điều kiện tiếp cận Tòa án. Trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người gặp khó khăn trong nhận thức có thể bị phụ thuộc chính vào người đang xâm phạm quyền lợi của mình.

Tuy nhiên việc trao cho Viện kiểm sát quyền khởi kiện cũng đặt ra 4 vấn đề sau cần bàn thêm không chỉ vì kết quả của vụ án phù hợp với mong muốn bảo vệ trẻ em.

Viện kiểm sát tham gia tố tụng với tư cách nào?

Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự phân biệt hai trường hợp. Khi cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng hoặc lợi ích của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức đó là nguyên đơn. Ngược lại, khi khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một người cụ thể, khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng của người được bảo vệ.

Tư cách nguyên đơn quyết định ai có quyền thay đổi hoặc rút yêu cầu, ai được thỏa thuận với bị đơn, ai phải chứng minh và ai có quyền kháng cáo. Nếu quyền bị xâm phạm là quyền cấp dưỡng của trẻ em thì về bản chất, đứa trẻ mới là chủ thể có quyền lợi cần được bảo vệ. Viện kiểm sát khởi kiện vì lợi ích của trẻ chứ không phải để bảo vệ một quyền dân sự của chính mình.

Quang cảnh phiên toà sơ thẩm.

Quang cảnh phiên toà sơ thẩm.

Trong vụ án tại Cần Thơ, Tòa án xác định Viện kiểm sát là nguyên đơn, còn cháu bé là người có quyền và lợi ích được bảo vệ. Cách xác định này giúp quá trình tố tụng vận hành thuận lợi, nhưng vẫn để lại một câu hỏi mang tính học thuật. Viện kiểm sát là nguyên đơn độc lập hay là một dạng đại diện đặc biệt của cháu bé? Người mẹ và cháu bé có quyền tự mình đưa ra ý kiến khác với yêu cầu của Viện kiểm sát hay không? Nếu người mẹ muốn rút yêu cầu nhưng Viện kiểm sát muốn tiếp tục vụ kiện thì ý chí của chủ thể nào được ưu tiên?

Nghị quyết 205 gọi Viện kiểm sát là người khởi kiện và trao cho kiểm sát viên nhiều quyền tương tự nguyên đơn, nhưng chưa giải quyết thật rạch ròi địa vị tố tụng của người được bảo vệ. Vì vậy tôi cho rằng đây là nội dung cần được theo dõi trong quá trình thí điểm để khi luật hóa không còn khoảng trống giữa người có quyền dân sự và chủ thể đứng ra khởi kiện.

Cùng lúc đảm nhiệm hai vai, Viện kiểm sát có tự xung đột lợi ích

Về vấn đề này, nhiều người đặt ra ngay từ khi Nghị quyết 205 đang trong giai đoạn dự thảo. Khoản 2 Điều 16 Nghị quyết 205 quy định kiểm sát viên tại phiên tòa được công bố quyết định khởi kiện, trình bày và giải thích chứng cứ, tranh luận, thay đổi hoặc rút yêu cầu khởi kiện. Cũng tại khoản này, kiểm sát viên tiếp tục thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án.

Như vậy trong cùng một phiên tòa, kiểm sát viên vừa phải bảo vệ yêu cầu khởi kiện của Viện kiểm sát, vừa theo dõi và đánh giá tính hợp pháp của hoạt động tố tụng. Một vai trò đòi hỏi kiểm sát viên thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu. Vai trò còn lại đòi hỏi sự khách quan đối với toàn bộ quá trình giải quyết, kể cả việc đánh giá quyền của bị đơn và những chứng cứ chống lại yêu cầu khởi kiện.

Hai nhiệm vụ này không nhất thiết dẫn đến xung đột trong mọi vụ án. Viện kiểm sát không có lợi ích vật chất riêng và mục đích khởi kiện là bảo vệ người yếu thế hoặc lợi ích công. Tòa án vẫn là cơ quan độc lập ra phán quyết. Bị đơn vẫn có quyền cung cấp chứng cứ, tranh luận, kháng cáo và yêu cầu xem xét lại bản án theo thủ tục luật định.

Tuy nhiên không thể vì mục tiêu bảo vệ người yếu thế mà xem nhẹ yêu cầu bình đẳng trong tố tụng. Theo Điều 8 và Điều 9 Nghị quyết 205, trước khi khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền thu thập tài liệu, yêu cầu cung cấp chứng cứ, lấy lời khai, tiến hành đối chất, trưng cầu giám định, định giá tài sản và xem xét tại chỗ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài liệu có trách nhiệm cung cấp theo yêu cầu trong thời hạn luật định.

Đây là những quyền năng mà một nguyên đơn dân sự thông thường không có. Khi tham gia vụ án, bị đơn không chỉ đối diện với một bên tranh chấp mà còn đối diện với một cơ quan có khả năng sử dụng quyền lực công để xác minh và thu thập chứng cứ trước khi khởi kiện. Sự bất cân xứng này có thể được chấp nhận vì mục tiêu bảo vệ lợi ích xã hội đặc biệt, nhưng phải đi kèm cơ chế kiểm soát chặt chẽ.

Trước hết, toàn bộ chứng cứ Viện kiểm sát thu thập phải được công khai kịp thời để bị đơn có điều kiện tiếp cận, giải trình và đưa ra chứng cứ phản bác. Tòa án không thể mặc nhiên xem nhận định của Viện kiểm sát là ý kiến trung lập một khi Viện kiểm sát đang bảo vệ chính yêu cầu do mình đưa ra. Khi luật hóa cơ chế này theo tôi cần nghiên cứu phân công kiểm sát viên hoặc đơn vị khác thực hiện chức năng kiểm sát, thay vì để cùng một kiểm sát viên đồng thời tranh luận với tư cách người khởi kiện và đánh giá việc tuân theo pháp luật của phiên tòa.

Khi nào Viện kiểm sát được quyền thay thế người có quyền khởi kiện?

Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 205 xác định Viện kiểm sát chỉ khởi kiện sau khi đã thông báo hoặc kiến nghị chủ thể có quyền, trách nhiệm khởi kiện nhưng không có người khởi kiện. Riêng đối với việc bảo vệ người dễ bị tổn thương, điểm b khoản 1 Điều 14 còn yêu cầu người bị xâm phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ không thể tự mình khởi kiện và đề nghị Viện kiểm sát khởi kiện.

Như vậy pháp luật không quy định rằng chỉ cần một người không muốn khởi kiện thì Viện kiểm sát đương nhiên thay thế. Điều kiện được đặt ra là họ không thể tự mình thực hiện quyền đó. Theo điểm d tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần I Hướng dẫn số 20/HD/VKSTC ngày 21/7/2026, việc xác định người đại diện không có điều kiện bảo vệ người được đại diện hoặc người dễ bị tổn thương không thể tự mình khởi kiện phải căn cứ vào tình trạng cụ thể. Khó khăn về tài chính, trình độ, ngôn ngữ, đi lại hoặc tiếp cận thông tin chỉ là những yếu tố được xem xét trong tổng thể, không phải căn cứ độc lập và đương nhiên.

Thông tin công khai về vụ án tại Cần Thơ mới cho thấy người mẹ không trực tiếp khởi kiện và có văn bản đề nghị Viện kiểm sát khởi kiện. Chưa có đủ dữ liệu để biết căn cứ nào được sử dụng nhằm xác định chị không thể tự mình khởi kiện. Không thể từ sự thiếu vắng thông tin trên báo chí mà kết luận quá trình tố tụng không đúng, bởi hồ sơ vụ án có thể còn những tài liệu chưa được công bố. Nhưng bản án cần giải thích rõ điều kiện này, bởi đây là căn cứ xác lập quyền khởi kiện đặc biệt của Viện kiểm sát.

Nếu chỉ cần người đại diện gửi văn bản đề nghị thì điều kiện "không thể tự mình khởi kiện" sẽ mất ý nghĩa. Viện kiểm sát khi ấy có thể trở thành một chủ thể đại diện miễn phí cho hầu hết tranh chấp dân sự của nhóm dễ bị tổn thương. Điều này vừa mở rộng quá mức phạm vi can thiệp của quyền lực công vào quan hệ tư, vừa có thể khiến nguồn lực kiểm sát bị phân tán khỏi những trường hợp thực sự không còn con đường nào khác để tiếp cận công lý.

Vụ án còn đặt ra một vấn đề khác về khái niệm hành vi vi phạm

Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 205 yêu cầu Viện kiểm sát phải xác định có vi phạm gây thiệt hại đến quyền dân sự của người dễ bị tổn thương. Trong khi đó, thông tin hiện có cho thấy người cha vẫn thực hiện mức cấp dưỡng 750.000 đồng theo bản án năm 2014. Anh không đồng ý tăng mức cấp dưỡng nhưng cho rằng khi con cần tiền mua sữa, bánh kẹo hoặc phục vụ học tập thì vẫn hỗ trợ thêm.

Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khi có lý do chính đáng thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Nếu các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Điều này cho thấy pháp luật thừa nhận nghĩa vụ cấp dưỡng có tính biến động theo hoàn cảnh, nhưng việc người cha tiếp tục thực hiện đúng mức tiền được tuyên trong một bản án đang có hiệu lực có phải là hành vi vi phạm hay không vẫn cần được lý giải.

Có thể lập luận rằng bản án năm 2014 xác định mức nghĩa vụ có thể cưỡng chế nên trước khi có phán quyết thay đổi, việc trả đủ 750.000 đồng không thể mặc nhiên bị coi là trái pháp luật. Theo cách hiểu này, vụ kiện thực chất nhằm điều chỉnh một quan hệ pháp luật do hoàn cảnh đã thay đổi, chứ không phải khắc phục một hành vi vi phạm đã xảy ra.

Ở chiều ngược lại, nghĩa vụ nuôi dưỡng con không phải nghĩa vụ bất biến được hoàn thành chỉ bằng việc trả đúng một con số đã xác định hơn mười năm trước. Khi nhu cầu thiết yếu của trẻ tăng lên đáng kể và người có nghĩa vụ có khả năng thực tế cao hơn, việc từ chối điều chỉnh có thể khiến quyền được nuôi dưỡng của trẻ không còn được bảo đảm đầy đủ.

Cả hai cách hiểu đều có cơ sở nhất định. Vì vậy cơ chế thí điểm cần làm rõ Viện kiểm sát có được khởi kiện yêu cầu thay đổi một nghĩa vụ đang được thực hiện hợp pháp nhưng không còn phù hợp với hoàn cảnh hay chỉ được khởi kiện khi đã xác định có hành vi vi phạm. Nếu muốn mở rộng sang những yêu cầu điều chỉnh quan hệ pháp luật vì hoàn cảnh thay đổi thì nên quy định rõ, thay vì buộc cơ quan áp dụng pháp luật phải kéo giãn khái niệm vi phạm.

Vụ án tại Cần Thơ cho thấy cơ chế Viện kiểm sát khởi kiện có thể đem lại một con đường bảo vệ thực chất cho trẻ em. Bảo vệ người yếu thế là mục tiêu chính đáng. Chính vì mục tiêu ấy chính đáng nên quyền lực được sử dụng để thực hiện nó càng phải có giới hạn minh bạch. Một cơ chế tốt không chỉ đưa được vụ việc ra Tòa án mà còn phải trả lời rõ ai là nguyên đơn, ai đại diện cho người được bảo vệ, ai thực hiện chức năng kiểm sát và bằng cách nào sự bình đẳng giữa các bên được duy trì.

Hoàng Hà

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/luat-su-ban-khoan-khi-vien-kiem-sat-thay-me-khoi-kien-nang-muc-cap-duong-cho-con-238260816114959484.htm