Luật về Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Khi thực tiễn 'vượt khung' pháp lý
Ngày 24.4, tại Hà Nội, Bộ VHTTDL tổ chức Hội nghị 'Tổng kết Luật Du lịch và đánh giá việc thi hành một số quy định của Luật Thể dục, thể thao, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Di sản văn hóa'.
Triển khai thi hành Luật Di sản văn hóa

Toàn cảnh Hội nghị
Hội nghị do ông Phạm Cao Thái, Vụ trưởng Vụ Pháp chế chủ trì, với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội nghề nghiệp, các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp.
Hội nghị còn nhằm lấy ý kiến về hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Di sản văn hóa. Đây là một bước đi cho thấy yêu cầu cấp thiết phải điều chỉnh chính sách để theo kịp thực tiễn đang vận động rất nhanh.
Nhận diện những “điểm nghẽn”
Tại Hội nghị, ông Phạm Cao Thái đã giới thiệu hồ sơ dự án Luật và định hướng nội dung tổng kết các Luật, góp ý hồ sơ dự án Luật.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận không chỉ dừng ở việc “liệt kê kết quả”, mà đi thẳng vào những câu hỏi mang tính hệ thống: Phân quyền đến đâu để vừa linh hoạt cho địa phương, vừa giữ được tính thống nhất?
Cải cách thủ tục đã thực sự giảm gánh nặng cho doanh nghiệp hay mới chỉ dừng ở kỹ thuật? Các cơ chế hiện hành có đủ sức tạo động lực phát triển hay đang trở thành lực cản?
Đây chính là những vấn đề mà thực tiễn nhiều năm qua đã đặt ra, nhưng chưa được giải quyết triệt để.

Ông Phạm Cao Thái giới thiệu hồ sơ dự án Luật và định hướng nội dung tổng kết các Luật, góp ý hồ sơ dự án Luật
Báo cáo tham luận “Tổng kết việc thi hành Luật Du lịch và những vấn đề đặt ra đối với mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòng Xúc tiến du lịch Việt Nam ở nước ngoài”, ông Phạm Ngọc Thủy, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết:
“Sau gần một thập kỷ thực thi, Luật Du lịch 2017 được nhìn nhận là đã tạo dựng khung pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động du lịch, góp phần đưa ngành này trở thành một trong những lĩnh vực có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế”.
Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành kịp thời; môi trường kinh doanh được cải thiện; hoạt động xúc tiến có chuyển biến; phân cấp cho địa phương giúp gia tăng tính chủ động. Những kết quả này tạo nên một nền móng ổn định cho sự phát triển của ngành.
“Tuy nhiên, chính quá trình phát triển nhanh của du lịch lại làm lộ rõ “độ trễ” của khung pháp lý, cần được nhìn nhận một cách khách quan và thẳng thắn”, ông Thủy nhấn mạnh.
Thực tiễn đã đi xa hơn những gì Luật dự liệu: Kinh tế chia sẻ, nền tảng số, du lịch thông minh phát triển mạnh nhưng chưa có hành lang pháp lý tương ứng.
Hoạt động xúc tiến vẫn mang tính phân tán, thiếu một cơ chế vận hành chuyên nghiệp ở tầm quốc gia.
Sự phối hợp liên ngành được cho là yếu tố sống còn của một ngành kinh tế tổng hợp vẫn thiếu rõ ràng.
Một số điều kiện kinh doanh còn nặng tính hành chính, chưa thực sự “mở đường” cho doanh nghiệp.
Những bất cập này không phải là hiện tượng riêng lẻ, mà phản ánh một thực tế: luật đã hoàn thành vai trò trong một giai đoạn, nhưng đang cần được “nâng cấp” để thích ứng với bối cảnh mới.

Ông Phạm Ngọc Thủy, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Du lịch và những vấn đề đặt ra đối với mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòng Xúc tiến du lịch Việt Nam ở nước ngoài
Khoảng trống lớn trong xúc tiến du lịch quốc gia
Một trong những vấn đề được nhấn mạnh tại Hội nghị là sự thiếu vắng hệ thống Văn phòng Xúc tiến du lịch Việt Nam ở nước ngoài - một công cụ mà hầu hết các quốc gia có ngành Du lịch phát triển đều đã triển khai từ lâu.
Trong khi các nước trong khu vực đã xây dựng mạng lưới văn phòng rộng khắp tại các thị trường trọng điểm, hoạt động xúc tiến của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các chiến dịch ngắn hạn, theo sự kiện, thiếu tính liên tục và chiều sâu.
Thái Lan đã thành lập 29 văn phòng xúc tiến du lịch tại 18 quốc gia/vùng lãnh thổ; Malaysia mở 34 văn phòng tại 22 quốc gia/vùng lãnh thổ, Singapore mở 22 văn phòng tại 14 quốc gia/vùng lãnh thổ; Nhật Bản mở 26 văn phòng tại 20 quốc gia/vùng lãnh thổ; Hàn Quốc mở 14 văn phòng tại 12 quốc gia/vùng lãnh thổ…
Hệ quả không bộc lộ theo cách ồn ào, nhưng lại âm thầm định hình vị thế của du lịch Việt Nam trên bản đồ quốc tế.
Khi thiếu một “đầu mối hiện diện” đủ mạnh tại thị trường nguồn, Việt Nam khó có thể chủ động kiến tạo dòng chảy du khách.
Phần nào đó, chúng ta vẫn đi theo quỹ đạo do các hãng lữ hành lớn, các nền tảng đặt dịch vụ xuyên biên giới hay hệ sinh thái truyền thông quốc tế dẫn dắt.

Ông Trần Trung Hiếu, Phó giám đốc Sở Du lịch TP. Hà Nội tham luận “Thực tiễn thi hành Luật Du lịch về quản lý điểm, khu du lịch tại Hà Nội và kiến nghị hoàn thiện pháp luật”
Quyền quyết định, từ việc khách đi đâu, ở bao lâu, chi tiêu ra sao, không hoàn toàn nằm trong tay chúng ta.
Sự lệ thuộc ấy kéo theo một hệ quả tinh vi hơn: hình ảnh điểm đến bị “cắt khúc” thành nhiều mảnh rời rạc.
Mỗi địa phương quảng bá theo một cách, mỗi chiến dịch kể một câu chuyện, nhưng thiếu một nhạc trưởng để tạo nên hòa âm chung.
Khi thông điệp không đủ nhất quán và liên tục, thương hiệu quốc gia khó tích lũy chiều sâu trong nhận thức của du khách.
Việt Nam vì thế dễ được nhớ đến như một tập hợp những điểm đến hấp dẫn riêng lẻ, hơn là một hành trình có bản sắc rõ ràng và chiến lược định vị dài hạn.
Việc xây dựng Văn phòng xúc tiến du lịch ở nước ngoài vì vậy không còn là một lựa chọn, mà là yêu cầu mang tính cấu trúc.
Bài toán không chỉ là “có hay không”, mà là “làm như thế nào”. Và vấn đề đặt ra không đơn giản là thành lập văn phòng, mà là lựa chọn mô hình phù hợp và đảm bảo hiệu quả vận hành.

TS. Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam đánh giá về việc thi hành Luật Di sản văn hóa
Từ câu chuyện tổ chức đến cách vận hành, những vấn đề đặt ra tại Hội nghị thực chất đều xoay quanh một điểm chung: làm thế nào để thiết kế một bộ máy xúc tiến đủ linh hoạt mà vẫn giữ được tính định hướng.
Lựa chọn mô hình không chỉ là bài toán hình thức, mà phản ánh cách tiếp cận thiên về quản lý hành chính hay vận hành theo logic thị trường, có mở ra không gian cho khu vực tư nhân cùng tham gia hay không.
Bên cạnh đó là câu chuyện về nguồn lực. Nếu cơ chế tài chính vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách, hoạt động xúc tiến khó tránh khỏi sự ngắn hạn và thiếu chủ động. Nhưng nếu mở rộng xã hội hóa, thì lại cần một khung vận hành đủ minh bạch để các nguồn lực được kết nối thay vì phân tán.
Ở cấp độ con người, yêu cầu cũng không dừng ở năng lực quản lý thông thường. Xúc tiến du lịch quốc tế đòi hỏi những người hiểu thị trường, nắm bắt được hành vi du khách và có khả năng truyền tải câu chuyện điểm đến một cách thuyết phục.
Và khi đặt trong mối quan hệ với hệ thống ngoại giao, việc phối hợp cũng cần được thiết kế rành mạch: đủ gắn kết để tạo sức mạnh chung, nhưng không chồng lấn vai trò, tránh tình trạng “nhiều đầu mối, một thông điệp”.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những mô hình bán tự chủ, có sự tham gia của doanh nghiệp thường đạt hiệu quả cao hơn nhờ tính linh hoạt và khả năng huy động nguồn lực.

Bà Đoàn Quỳnh Dung, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện góp ý về việc thi hành Luật Thư viện
Khi yêu cầu hoàn thiện luật gắn với tái cấu trúc quản lý
Điểm đáng chú ý trong lần sửa đổi này là cách tiếp cận mang tính hệ thống, không sửa từng điều khoản riêng lẻ, mà đặt trong tổng thể các luật liên quan đến văn hóa, thể thao và du lịch.
Các nhóm chính sách được lấy ý kiến đều hướng đến ba trục lớn: Tăng tính chủ động cho địa phương nhưng không làm phân tán trách nhiệm; giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong bối cảnh mới.
Điều này cho thấy, ngoài mục tiêu trong việc hoàn thiện luật, còn có cả việc điều chỉnh lại cách thức vận hành của toàn bộ hệ thống.
Việc tổng kết toàn diện Luật Du lịch và các luật liên quan không chỉ là một hoạt động kỹ thuật lập pháp. Đây là dịp để nhìn lại cách thức quản lý một lĩnh vực đang vận động rất nhanh và chịu tác động mạnh từ toàn cầu hóa, công nghệ và cạnh tranh quốc tế.

Ông Đỗ Quốc Việt, Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh đánh giá về việc thi hành Luật Điện ảnh và góp ý
hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung
Những vấn đề được chỉ ra tại Hội nghị, từ khoảng trống pháp lý, cơ chế xúc tiến, đến mô hình tổ chức… đều là những điểm nghẽn đã tồn tại trong thời gian dài.
Câu chuyện phía trước ngoài sửa luật, còn là thiết kế lại một hệ thống đủ linh hoạt để theo kịp thực tiễn, nhưng cũng đủ chặt chẽ để đảm bảo tính bền vững.
Nếu làm được điều đó, đây sẽ không chỉ là một lần điều chỉnh pháp lý, mà là bước chuyển quan trọng trong cách Việt Nam định vị và vận hành ngành văn hóa, thể thao và du lịch trong giai đoạn mới.
Tại Hội nghị, các đại biểu cũng đã nêu những đánh giá từ thực tiễn thi hành một số quy định của Luật Thể dục, thể thao, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Di sản văn hóa…; đồng thời đóng góp ý kiến rất sát thực tế đối với hồ sơ dự án Luật.











