Lực lượng vũ trang Tây Bắc chiến đấu với 'giặc lũ' thời bình - Bài 3: Đôi điều trăn trở (tiếp theo và hết)
Từ thực tiễn cho thấy, bão lũ cùng những thiệt hại do thiên tai ở Tây Bắc không chỉ là quy luật tự nhiên, mà còn gắn chặt với tập quán cư trú, canh tác, biến đổi khí hậu và sự phát triển chưa đồng đều của vùng núi. Trong bối cảnh ấy, LLVT Quân khu 2 luôn trăn trở cùng cấp ủy, chính quyền các địa phương trong phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương, vì cuộc sống bình yên của đồng bào nơi phên giậu của Tổ quốc.
“Tròn vai” theo phương châm “4 tại chỗ”
Cuộc “chiến đấu” với thiên tai, thảm họa lâu nay được các cấp, các ngành trên địa bàn Tây Bắc vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, theo đúng phương châm “4 tại chỗ” và thực tế đã phát huy tác dụng. Trước nguy cơ thiên tai, thảm họa ngày càng gia tăng, đòi hỏi tất cả các lực lượng chức năng, từ lãnh đạo, điều hành đến lực lượng nòng cốt, xung kích, đều phải “tròn vai” với chức năng, trách nhiệm của mình và có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ.
Khi giao thông bị chia cắt, lực lượng tại chỗ là lực lượng đầu tiên tiếp cận hiện trường, giúp dân sơ tán, tìm kiếm người mất tích và cứu hộ. Chính người dân là người chủ động phát hiện sớm nhất, lực lượng dân quân tự vệ, cùng già làng, trưởng bản phải là lực lượng xung kích, nòng cốt cần tiếp tục được huấn luyện, tập huấn nâng cao nhận thức, trách nhiệm, kỹ năng cứu hộ, cứu nạn, sơ cứu ban đầu.

Quân khu 2 chỉ đạo tỉnh Phú Thọ tổ chức diễn tập phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố đê điều, hồ đập và tìm kiếm cứu nạn năm 2025.
Ở phạm vi rộng hơn, các địa phương và LLVT cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tập huấn, huấn luyện, luyện tập, diễn tập, từ đó nâng cao năng lực tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, rèn luyện bản lĩnh, ý chí cho cán bộ, chiến sĩ. Phát huy hiệu quả của nhiệm vụ diễn tập ứng phó lũ quét, sạt lở đất và tìm kiếm cứu nạn với nhiều đề mục khác nhau.
Cần tiếp tục phối hợp, chỉ đạo, tổ chức các cuộc diễn tập phòng thủ dân sự cấp tỉnh, cấp xã, nhất là sau sáp nhập, từ đó nhuần nhuyễn vai trò, chức năng của các cơ quan, lực lượng trong vận hành cơ chế khi có tình huống thiên tai, thảm họa.
Vẽ “bản đồ” thiên tai
Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm là một trong những nội dung hết sức quan trọng. Nhiều sự cố thiên tai nghiêm trọng trong những năm gần đây đã cho thấy hạn chế lớn vẫn nằm ở khả năng dự báo, cảnh báo. Do đó, cần đẩy mạnh đầu tư bổ sung trạm đo mưa tự động, ứng dụng công nghệ cảnh báo lũ quét, xây dựng và hoàn thiện bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai đến từng thôn, bản. Đa dạng hóa các kênh thông tin cảnh báo, từ tuyên truyền trực tiếp, dùng loa truyền thanh, hệ thống còi báo động, đến mạng xã hội, tin nhắn khẩn cấp.
Từ kinh nghiệm thực tiễn, Đại tá Nguyễn Đức Cương, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Lào Cai cho rằng: “Để giảm thiểu thiệt hại, cần nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, phải có “bản đồ thiên tai”, để chuyển từ “bị động chống đỡ” sang “chủ động thích ứng”. Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu cho địa phương xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sạt lở cụ thể cho 99 xã, phường trên địa bàn tỉnh. “Khoanh đỏ” các khu vực có độ dốc lớn, đất yếu, rừng bị suy giảm và danh sách hộ dân phải di dời.
Đại tá Nguyễn Văn Hoạt, Phó chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh Điện Biên khẳng định: “Nơi nào tổ chức tốt công tác cảnh báo, nơi đó giảm rõ rệt nguy cơ thương vong và thiệt hại. Đây là bài học lớn được rút ra từ thực tiễn và tiếp tục được nhấn mạnh trong phương án ứng phó của các địa phương, đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn”.
Cần nhiều nơi tái định cư mới
Tập quán sinh sống và canh tác là mạch nguồn văn hóa, nhưng cũng tiềm ẩn hiểm nguy. Trên địa bàn Quân khu 2 có 34 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm gần một nửa. Cộng đồng các dân tộc nơi đây đã gắn bó với núi rừng nhiều thế hệ, hình thành tập quán cư trú mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Thực tế, các dân tộc Thái, Mường, Tày thường cư trú ở thung lũng, lòng chảo, dọc các dòng suối, nhưng những “bãi bồi” ấy lại là nơi dễ xảy ra lũ quét, lũ ống. Ngược lại, đồng bào Mông, Dao, Khơ Mú... thường sống ở các sườn núi cao, độ dốc lớn để thuận lợi cho canh tác nương rẫy. Việc canh tác khiến lớp đất bề mặt bị xáo trộn. Nắng nóng kéo dài gây ra nứt đất, khi có mưa to sẽ tạo thành đường trượt, gây sụt đất, hay tạo nên những vụ sạt lở diện rộng.
Không ít nơi, nhà ở men theo sườn núi, đường giao thông ôm theo vách đá làm nền đất yếu. Việc đốt nương làm rẫy gây cháy rừng, tình trạng phá rừng còn diễn biến phức tạp, khiến nhiều khu vực bị “rỗng ruột” về thảm thực vật, làm nước mưa chảy tràn và không có cây cối giữ đất. Chỉ một đợt mưa lớn là nền đất yếu bị “kích hoạt”, lở từng mảng lớn, đẩy cả bản làng vào hiểm họa.

Thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân khu 2 trao đổi với anh Mùa A Thi tại buổi bàn giao nhà bản Háng Pu Xi.
Cần nhiều khu tái định cư cho bà con vùng lũ, đó là một trong những giải pháp giảm thiểu nguy cơ hậu quả lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, được nêu ra tại nhiều hội nghị, hội thảo các cấp, các ngành, trong đó có hội nghị Đảng ủy Quân khu 2 tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 689 của Quân ủy Trung ương về công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, cứu hộ, cứu nạn đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Theo đó, công tác quy hoạch, sắp xếp, bố trí dân cư ở các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét là cấp thiết và là chiến lược lâu dài, để bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, quy hoạch các vùng dân cư, xây dựng các khu tái định cư rất tốn kém, cần nhiều nguồn lực để hoàn thiện hạ tầng đồng bộ và tạo kế sinh nhai, để người dân yên tâm gắn bó.
Những khu tái định cư cho bà con tại thôn Làng Nủ, thôn Át Thượng (Lào Cai); Huổi Ké, Sín Thầu, Háng Pu Xi, Trống Sư A, Tìa Mùng (Điện Biên); Tả Lèng Sung, Nậm Gia (xã Khổng Lào, tỉnh Lai Châu); bản Tăng (Nậm Lầu, Sơn La) mới chỉ là số ít, chưa đáp ứng được số lượng lớn hộ dân cần di dời khẩn cấp ra khỏi khu vực nguy cơ cao.
Tập quán cư trú của đồng bào là kết quả của nhiều thế hệ, gắn với văn hóa, tâm linh và sinh kế. Việc vận động bà con rời nơi “chôn nhau cắt rốn” để đến khu tái định cư mới vẫn là thách thức lớn. Để thực hiện hiệu quả các chương trình bố trí dân cư, cần sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, chính quyền địa phương, khai thác hiệu quả các nguồn lực và phát huy tốt hơn nữa chức năng đội quân công tác của LLVT.
10 năm trở lại đây, LLVT Quân khu 2 đã phối hợp tổ chức tuyên truyền về chủ động phòng, chống thiên tai, thấy được mức độ nguy hiểm từ nơi ở, canh tác cho trên 2,5 triệu lượt người tham gia. Cơ quan quân sự tỉnh và các đoàn kinh tế - quốc phòng đã trực tiếp cử lực lượng xuống từng thôn, bản thực hiện “3 bám, 4 cùng”. Sư đoàn 316 thực hiện mô hình thi đua “dân vận khéo”, nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động nhân dân, kiên trì giải thích, để nhân dân đồng thuận di dời khỏi vùng sạt lở nguy hiểm, đến nơi tái định cư an toàn.
Ngay sau “chiến dịch” xây nhà mới, cải tạo nhà ở cho người dân bị thiệt hại do mưa lũ tháng 8-2025 trên địa bàn tỉnh, Bộ CHQS tỉnh Sơn La được địa phương tin tưởng giao chủ trì triển khai thi công các công trình Trường nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở các xã Phiêng Pằn, Chiềng Khương, Mường Lèo (Sơn La). Đại tá Chu Văn Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Sơn La cho biết: “Cần nhiều nguồn lực để xây những công trình như trường vùng biên, bản tái định cư hoặc di dời nhà dân có nguy cơ rủi ro đến nơi ở mới. Mặt khác, những công trình đã có như trụ sở cơ quan, đơn vị vừa sáp nhập đang dư thừa, cần phát huy tác dụng là nơi tránh trú cho người dân khi xảy ra tình huống”.
Cùng với đôi điều trăn trở và một số giải pháp trên gắn với LLVT, công tác phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa cần nhiều giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược lâu dài như trồng và cải tạo rừng; làm công trình giao thông hạn chế tác động bề mặt tự nhiên; xây dựng cải tạo hệ thống hồ đập... Từ đó, góp phần vượt lên thiên tai thảm họa, giữ cho Tây Bắc hùng vĩ, bình yên và cuộc sống đồng bào ổn định, phát triển.













