Mã đáo thành công

Trong số con giáp được người Việt ưa chuộng thì Ngọ - Ngựa là một trong những hình tượng đẹp, giàu ý nghĩa cùng vô số trữ lượng văn hóa. Đã có rất nhiều biểu tượng được sinh sôi nảy nở từ một con vật có sức khỏe dẻo dai và tốc độ phi nước đại.

Trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống tâm linh, từ Phật giáo, Nho giáo đến tín ngưỡng dân gian, ngựa được tái hiện trên những bức chạm khắc tinh xảo của điêu khắc đình làng, trong các ngôi chùa cổ đến lăng mộ các vua chúa và cả trên những bức tranh dân gian sống động.

Hình tượng con ngựa dường như đã khoe ra không chỉ những nét đẹp về mặt hình thể uyển chuyển, mềm mại hay trang nghiêm uy quyền mà còn được người Việt trao gửi vào đó những thông điệp Cát tường nhân sinh để truyền lưu qua nhiều thế hệ, khắc vào văn hóa Việt một giá trị bản sắc riêng biệt.

Điêu khắc “Con ngựa” ở chùa Phật Tích, thế kỷ 11.

Điêu khắc “Con ngựa” ở chùa Phật Tích, thế kỷ 11.

Tác phẩm điêu khắc ngựa sớm nhất trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam chính là con ngựa trong dãy linh thú ở chùa Phật Tích trên núi Lạn Kha, xã Phật Tích, tỉnh Bắc Ninh.

Được đặt ngay ở vị trí trước tiền đường, đăng đối sang 2 bên, tác phẩm có niên đại thế kỷ 11 này đã mô tả những con ngựa trong tư thế nằm quỳ rất thư thả nhàn nhã. Được mô tả với phong cách hiện thực, nhưng chúng lại được ngự trên một chiếc bệ sen hình chữ nhật như thể tôn vinh một biểu tượng đậm chất huyền thoại.

Trong lịch sử Phật giáo, ngựa trắng vốn là một con vật phò trợ cho Đức Phật theo truyền thuyết về sự xuất gia, tu hành của thái tử Tất Đạt Đa. Bắt đầu từ đây, hình tượng ngựa đã được xem là tiền kiếp của Đức Phật, là biểu tượng của sức mạnh tinh thần và sự nỗ lực tinh tấn trong thực hành chánh pháp.

Không những thế, theo giáo lý Phật giáo, ngựa tượng trưng cho khí Prana luân chuyển trong cơ thể con người, tượng trưng cho các giác quan của cỗ xe tinh thần. Việc chế ngự được những bản năng - con ngựa bất kham - đã trở thành mục đích tối thượng để đạt đến trạng thái vô ưu.

Ngựa - chạm khắc trên lan can chùa Bút Tháp, thế kỷ 17.

Ngựa - chạm khắc trên lan can chùa Bút Tháp, thế kỷ 17.

Tiếp nối cho những ý tưởng này trong đời sống tâm linh Phật giáo, những bức chạm trên lan can đá bao quanh thượng điện chùa Bút Tháp thế kỷ 17, hình tượng ngựa đã được dẫn giải trong những bối cảnh khác nhau.

Chúng kể ra những câu chuyện về Phật Pháp theo một cách thức phức tạp hơn, đa diện hơn trong phát triển thêm những trường nghĩa mới. Điển hình là bức Ngũ mã được chạm khắc ở vị trí cuối cùng trong chiếc cầu trung đạo từ thượng điện dẫn sang cây tháp Cửu Phẩm Liên Hoa.

Năm con ngựa, mỗi con được tạc trong một tư thế. Con thì ung dung gặm cỏ, con thì đang cuộn mình chổng 4 chân lên trời, con thì đang so vó hất cẳng lẫn nhau. Chúng chính là hình ảnh tượng trưng sinh động nhất cho Ngũ uẩn - một khái niệm của Phật giáo về Sắc - Thọ - Tưởng – Hành - Thức.

Đây là các yếu tố tạo nên giá trị một con người. Việc đề cao Ngũ Uẩn giúp ta nhận chân được sự vô ngã thường hằng để buông bỏ chấp chước, chấm dứt khổ đau, nền tảng dẫn đến con đường giác ngộ. Có thể nói, việc hình tượng hóa các giáo lý bằng các hình ảnh cụ thể đã khiến cho lý tưởng Phật giáo trở nên dễ hiểu và nhẹ nhàng.

Ngũ Mã – chạm khắc trên lan cầu đá chùa Bút Tháp, thế kỷ 17.

Ngũ Mã – chạm khắc trên lan cầu đá chùa Bút Tháp, thế kỷ 17.

Và không chỉ Ngũ Mã, ở những bức chạm khắc khác trên chiếc lan can độc nhất vô nhị này, ngựa được khắc họa trong một tinh thần lãng mạn. Lộc - Mã là một điển hình cho biểu tượng về sự hòa nhịp, thăng hoa theo những bước chân thong dong trên con đường chánh đạo. Rồi hình tượng ngựa được hóa mình trong biểu tượng Lân - Mã: Đầu rồng, mình ngựa, chân móng guốc, nhưng toàn thân lại bao phủ một lớp vảy mềm, lưng cõng hòm kinh.

Có thể nói, ngữ nghĩa của Đạo Phật đã dần được hiện ra trong từng nét chạm, khơi gợi nên trí tưởng tượng, ngõ hầu dẫn dắt nhân gian tìm thấy giá trị của con đường tu hành, tiệm cận tới chân lý và sự giác ngộ trong tâm thức.

Ước vọng thành đạt

Hình tượng con ngựa trong nghệ thuật dân gian Việt Nam còn xuất hiện trong những bức chạm khắc đề cao tinh thần Nho giáo. Trong vô số những mảng chạm khắc ở đình làng Bắc Bộ, sống động, rộn ràng nhất chính là các hoạt cảnh vinh quy bái tổ.

Ngựa dường như đã trở thành hình tượng trung tâm của đám rước với một bộ yên cương đẹp đẽ, những chiếc lục lạc nhỏ xinh cùng võng lọng rình rang để đón rước Trạng Nguyên về làng. Ngựa ở đây cũng chỉ có vai trò là một con vật cưỡi, nhưng đã góp phần vào hoạt cảnh này một nét đẹp sang quý tạo nên biểu tượng ước vọng về sự thành đạt của người Việt. Học chữ thánh hiền để một bước thăng quan, hiển vinh gia tộc.

Ngựa đá ở Đình Châu Khê, xã Đường An, Hải Phòng.

Ngựa đá ở Đình Châu Khê, xã Đường An, Hải Phòng.

Để đạt được sự hiển vinh đó, trong một khung cảnh khác, bức chạm rất nổi tiếng về ngựa thế kỷ 18 ở đình Đình Bảng Bát mã quần phi đã cho thấy một ngữ nghĩa khác của văn hóa Nho giáo. Tám con ngựa được chạm nông vừa phải trên một băng diềm lan can dẫn vào trung tâm ngôi đình, khoe ra sự tinh xảo của nghệ thuật chạm khắc gỗ dân gian giai đoạn này.

Biểu tượng cát tường trong văn hóa Nho giáo Trung Hoa được du nhập vào Việt Nam đã tạo nên một diễn đạt khác. Những con ngựa được đặc tả trong những trạng thái khác nhau trên một con đường gập ghềnh để cuối cùng con ngựa thứ tám về đích trong tư thế ung dung tự tại giữa bằng phẳng thênh thang. Một hàm nghĩa được ẩn chứa trong thành ngữ “mã đáo thành công”, sự tôi luyện bản thân trong lý tưởng của Nho giáo.

Oai phong và lẫm liệt

Sống động và mang nhiều sắc thái nhất có lẽ vẫn là những bức tranh ngựa trong dân gian. Vẫn là những con ngựa được thắng yên cương nhưng không có người cưỡi, chúng phi như bay trên những đám mây vần vũ. Đó là những con ngựa của thần linh (vô hình) hô mây cưỡi gió để phù hộ độ trì cho đời sống an nhiên của dân lành.

Nhìn vào các biểu tượng của những chú Phi Mã, Vân Mã, ta như nghe thấy cả tiếng gió hòa trong tiếng nhạc của những chiếc lục lạc đeo trên cổ ngựa. Một tâm hồn Việt đầy chất thơ như rung lên từ những nét khắc.

Ở một góc nhìn khác, ngựa trên những bức tranh thờ hay trong các di tích lăng mộ đền thờ, miếu điện… thường được hiện ra trong tư thế trang nghiêm cùng với những trang sức gù, tua, ô lọng. Ngựa tía màu đỏ, ngựa bạch màu trắng được bài trí đăng đối hai bên ban thờ như hội tụ vào đây cả yếu tố phong thủy, uy linh. Từ tranh dân gian đến những tác phẩm điêu khắc lăng mộ, đền thờ, dường như đã tạo nên một sự nhất quán.

Ngựa - tranh cắt giấy Đông Hồ.

Ngựa - tranh cắt giấy Đông Hồ.

Trên những bức tranh dân gian Hàng Trống, ngựa là vật cưỡi của những vị quan Hoàng, cậu Quận. Ngựa được biểu trưng bằng những màu sắc như đỏ, vàng, xanh, trắng, đen đã gia tăng vào đó những dư vị của đời sống tín ngưỡng.

Những sắc màu ngũ hành này chính là một năng lượng sống hai chiều, tương sinh và tương khắc, góp phần thể hiện ra uy phong của những vị thần chủ trong các điện thờ hướng tới các giá trị Thiện thì phù trợ, nâng đỡ; ác thì diệt trừ, tiêu tán. Vậy nên màu sắc ở đây không chỉ có giá trị làm đẹp, làm sống động cho những bức tranh tâm linh mà còn thể hiện tính uy quyền, phép tắc và đạo lý.

Hình tượng Thánh Gióng cưỡi ngựa trong dân gian.

Hình tượng Thánh Gióng cưỡi ngựa trong dân gian.

Vẫn là hình tượng ngựa với chức năng vật cưỡi nhưng ở những bức tranh Đông Hồ khắc họa các nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại của người Việt đã tạo nên một nét đẹp khác. Sự oai phong lẫm liệt của hình tượng Gióng tuổi nhỏ, tài cao, trí lớn đánh tan giặc Ân, không chỉ là một huyền thoại, mà còn là biểu tượng cho vị thế của một đất nước dẫu nhỏ bé, nhưng bất khuất bước ra từ khởi thủy.

Rồi, hình tượng vua Quang Trung cưỡi ngựa oai phong lẫm liệt như thêm một lần nữa khẳng định về truyền thống yêu nước. Chưa kể đến phương pháp khắc in thủ công trên giấy điệp của nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ, cách thức tạo hình những con ngựa này đã cho thấy một sự linh hoạt đáng ngạc nhiên của tư duy dân gian.

Vua Quang Trung cưỡi tuấn mã.

Vua Quang Trung cưỡi tuấn mã.

Chú tuấn mã mà đức vua Quang Trung cưỡi dường như được nhìn ở góc ¾ với những đôi chân rảo bước nhịp nhàng, một không gian ba chiều được hiện ra. Nó khác hẳn với lối nhìn nghiêng ½ ở các khắc họa ngựa bay tạo ra một giá trị có tính ước lệ trong nghệ thuật thị giác dân gian.

Có thể nói, từ những góc nhìn khác nhau của nghệ thuật tạo hình, hình tượng con ngựa trong mỹ thuật cổ của người Việt đã thấm đẫm những giá trị nhân sinh, đã hội tụ ở đó những giá trị tinh thần, những sắc thái và quan niệm đa diện của những tư tưởng tôn giáo đặc sắc.

Chúng góp phần vào hệ biểu tượng của mỹ thuật Việt một hình tượng đậm đà bản sắc mà cho đến ngày nay, biểu tượng ấy vẫn không ngừng khai mở nên những giá trị cho đời sống tinh thần của xã hội đương đại.

PGS.TS. Trang Thanh Hiền

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/ma-dao-thanh-cong-2489868.html