Hoài niệm ngựa Thượng Tứ

HNN - Ở Kinh đô Huế xưa, ngựa giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống cung đình. Chúng không chỉ là phương tiện vận tải hay quân sự, mà còn là biểu tượng của uy nghi, là một phần nghi lễ của vương quyền. Vì thế, việc nuôi dưỡng, huấn luyện và chăm sóc ngựa đều được quy định tỉ mỉ, đến cả yên cương, roi ngựa hay dây buộc chuông cũng phải đúng phép và tinh xảo.

 Mã binh thời Nguyễn tại Nghi Môn - cầu Trung Đạo, Hoàng thành Huế (Ảnh TL đầu TK XX)

Mã binh thời Nguyễn tại Nghi Môn - cầu Trung Đạo, Hoàng thành Huế (Ảnh TL đầu TK XX)

Năm 1826, triều đình lập Viện Thượng Tứ trong Kinh thành Huế, nơi chuyên nuôi và luyện ngựa cho vua. Ban đầu viện thuộc Cấm binh, sau chuyển về Biền binh chính ngạch. Trong Viện có ba vệ: Kiêu Kỵ, Khinh Kỵ và Phi Kỵ, nuôi lúc cao điểm đến hơn ba trăm con ngựa. Thời Minh Mạng, dựng ba tàu ngựa lớn, mỗi tàu mười bảy gian; thời Thiệu Trị lại thêm một tàu mười hai gian. Ngoài ra, còn có khu nuôi phụ ở phường Ninh Bạt, tàu ngựa hai mươi mốt gian, đủ thấy quy mô bề thế của cơ sở này.

Ngựa được mua từ các địa phương như Ninh Bình, Quảng Nam, Phú Yên; đôi khi còn nhập từ Vân Nam (Trung Quốc) hay phương Tây để cải thiện giống. Vì là “ngựa nhà vua”, chúng được chọn lọc kỹ lưỡng, huấn luyện bài bản để trở thành những “mã binh” tinh nhuệ bậc nhất.

Ngựa Thượng Tứ được chia nhiều hạng, tùy công dụng: Ngự mã (ngựa riêng cho vua); Lộ mã (ngựa kéo xe); Nghi mã (ngựa dùng trong các đại lễ); Sai mã (ngựa theo hầu đoàn ngự giá).

Riêng ngự mã được xem như vật thân cận với hoàng đế, nhiều con được nhà vua đặt tên và ban hiệu. Minh Mạng từng đặt tên cho những con ngựa yêu quý là Cát Thông, Thần Lương, Phúc Thông, Thiên Trúc, An Tường. Trong đó, con An Tường ký được vua ban dụ đặc biệt sau khi cưỡi thử và khen “yên ổn, hợp ý”. Vua Thiệu Trị cũng có ngựa quý mang tên Đại Uyển Long Tuấn Mã, Hiểu Lương Thông,…

Những con ngựa theo vua đều được trang sức lộng lẫy: Yên bọc vàng khắc rồng mây, dây buộc chuông thêu kim tuyến, bàn đạp chạm trổ tinh vi, roi ngựa nạm vàng, yếm bằng đoạn gấm. Năm 1830, triều đình chế riêng hai bộ “lỗ bộ trang sức cho ngựa”, mọi chi tiết đều biểu thị uy nghi của đế quyền.

Ngoài việc phục vụ nghi lễ, ngựa Thượng Tứ còn tham gia công vụ khẩn cấp. Khi trong Kinh có hỏa hoạn, ngựa được điều làm phương tiện đi dò xét và báo cáo tình hình; hoặc được phái đến các đồn trấn, dịch trạm để chuyển công văn, tin tức. Có năm, Vua Minh Mạng còn cấp ngựa Thượng Tứ cho binh ở thành Điện Hải (Đà Nẵng) để tuần tra cửa biển và cấp báo về kinh.

Không chỉ nuôi, Viện Thượng Tứ còn là nơi nhân giống. Năm 1846, Vua Thiệu Trị ra sắc dụ: “Ngựa con sinh nhiều, nên chia cấp cho các trạm”. Khi ấy, Viện có 251 ngựa đực, trong đó 200 con khỏe mạnh được phân cho hai vệ Khinh Kỵ và Phi Kỵ, số còn lại điều phối về các trạm dịch.

Việc huấn luyện ngựa và kỵ binh cũng được quy định chặt chẽ. Từ năm 1840, ba ngày một lần, binh lính phải luyện cưỡi ngựa với ba cấp độ: nước tiểu, nước trung, nước đại. Cứ mười ngày lại tập phóng lao, múa gươm; mỗi tháng diễn tập bắn súng và các thế trận. Năm 1851, triều đình từng tổ chức một cuộc thao diễn quy mô lớn: hơn 200 biền binh, 100 con ngựa, 80 khẩu súng, hàng trăm đao giáo, cờ hiệu rợp trời, một khung cảnh oai vệ nơi Kinh thành xưa. Dẫu vậy, trong thực tế quân sự, mã binh Triều Nguyễn không để lại dấu ấn gì sâu sắc. Ngựa được dùng chủ yếu cho việc vận chuyển thư tín, công văn, hoặc phục vụ các đại lễ như tế Giao, tế Xã Tắc. Vai trò của chúng thiên về nghi lễ hơn là chiến đấu.

Từ hoạt động của Viện Thượng Tứ, ta hình dung được phần nào diện mạo của ngự mã và mã binh Triều Nguyễn - một hệ thống vừa hành chính vừa nghi lễ, phản ánh nếp tổ chức chu đáo của vương triều. Chữ “Tứ” trong “Thượng Tứ” vốn gồm bộ “mã” và bộ “tứ”, chỉ cỗ xe bốn ngựa, về sau mang nghĩa chuyển là “ngựa quý”. Do đó, “Thượng Tứ” là nơi chuyên nuôi dưỡng và huấn luyện ngựa hay của nhà vua.

Nhân năm Ngọ, nhắc lại chuyện ngựa Thượng Tứ cũng là cách nhìn lại một mảnh lịch sử đã lùi xa. Ngày nay, nơi từng vang tiếng vó ngựa chỉ còn lưu dấu qua tên gọi cửa Thượng Tứ, cửa Đông Nam của Kinh thành Huế. Ít ai biết, bên cạnh cửa ấy xưa kia từng là một tàu ngựa lớn, một góc oai phong của Triều Nguyễn. Trong ánh hoàng hôn trên tường thành, đâu đó như vọng lại câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương… trong thoáng trầm mặc giữa Kinh đô xưa, nơi tiếng vó ngựa Thượng Tứ từng dội vang trong ký ức vàng son một thuở.

Nguyễn Phước Hải Trung

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/hoai-niem-ngua-thuong-tu-162457.html