Mã số vùng trồng mở đường cho HTX tham gia sâu hơn vào chuỗi xuất khẩu

Không chỉ là điều kiện bắt buộc để xuất khẩu chính ngạch, mã số vùng trồng đang trở thành công cụ giúp nhiều HTX chuẩn hóa sản xuất, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và gia tăng giá trị nông sản. Tuy nhiên, cùng với cơ hội mở rộng thị trường là áp lực duy trì tiêu chuẩn và quản lý vùng nguyên liệu theo yêu cầu ngày càng khắt khe của các nước nhập khẩu.

Theo Cục bảo vệ Thực vật (Bộ NN&MT), việc đăng ký mã số vùng trồng không phải là những thủ tục hành chính làm khó người nông dân, HTX. Ngược lại, đây chính là những công cụ kinh tế kỹ thuật để định vị phân khúc cao cấp cho nông sản Việt. Một sản phẩm có dán tem truy xuất nguồn gốc hợp pháp, có nhãn hiệu được bảo hộ sẽ tự tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội, giúp nâng giá trị xuất khẩu tăng từ 20- 30% so với nông sản thông thường.

HTX trở thành lực lượng chủ lực quản lý mã số vùng trồng

Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, đến tháng 5/2026, cả nước đã có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu các loại quả tươi sang nhiều thị trường như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Nhiều HTX đã quan tâm đến xây dựng mã số vùng trồng để phục vụ xuất khẩu.

Nhiều HTX đã quan tâm đến xây dựng mã số vùng trồng để phục vụ xuất khẩu.

Đặc biệt, tại nhiều địa phương, HTX, tổ hợp tác vẫn là những đơn vị sở hữu mã số vùng trồng nhiều nhất. Đơn cử, số liệu cập nhật đến ngày 08/6/2026 của ngành nông nghiệp TP Cần Thơ cho thấy, địa phương đã ghi nhận tổng cộng 648 mã số vùng trồng được cấp và đưa vào vận hành đồng bộ.

Hệ thống số liệu này cho thấy địa phương đã có sự bắt nhịp nhanh nhạy với các quy định kỹ thuật toàn cầu, chủ động đưa công nghệ vào quản lý đồng ruộng để thay đổi phương thức xuất khẩu.

Đáng chú ý, cơ cấu chủ thể đứng tên quản lý các vùng nguyên liệu được đăng ký mã số vùng trồng này ở Cần Thơ phản ánh đúng định hướng phát triển vĩ mô của Chính phủ khi lấy kinh tế tập thể làm bệ đỡ vững chắc. Mô hình HTX đang khẳng định vai trò dẫn dắt chuỗi liên kết khi nắm giữ đến 422 mã số, chiếm tỷ trọng áp đảo 65,1% tổng số mã vùng trồng của cả nước.

Điều này minh chứng cho sự bứt phá mạnh mẽ của HTX trong việc xóa bỏ phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún để gom tụ thành những vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn quốc tế.

Đứng ở vị trí thứ hai là mô hình Tổ hợp tác với việc sở hữu 146 mã số, tương đương 22,5% tổng số mã số vùng trồng, đóng vai trò là bước đệm kinh tế quan trọng giúp kết nối các hộ nông dân nhỏ lẻ lại với nhau trước khi phát triển lên quy mô HTX. Khối doanh nghiệp đóng vai trò là đầu tàu bao tiêu và trực tiếp tổ chức sản xuất chuyên sâu hiện sở hữu 80 mã số, chiếm 12,4%.

Sự chú trọng đăng ký mã vùng trồng đang trực tiếp tác động tích cực đến các HTX, tổ hợp tác. Điển hình tại vùng chuyên canh sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, nơi yêu cầu kiểm soát mã số nghiêm ngặt, các HTX Nông nghiệp Hưng Lợi 1, Hưng Lợi 2 và Hưng Lợi 3 tại Cần Thơ là những điểm sáng rõ nét khi chủ động chuẩn hóa vùng nguyên liệu với diện tích lần lượt là 13,5 ha, 12,7 ha và 11,6 ha để phục vụ xuất khẩu chính ngạch.

Cũng trên địa bàn thành phố Cần Thơ, HTX Tân Thới 1 đã tập hợp thành công 33 hộ dân, chuẩn hóa 25,7 ha sầu riêng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đi sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn có sự bắt tay chiến lược giữa doanh nghiệp đầu tàu là Công ty TNHH XNK Trái cây Chánh Thu phối hợp cùng HTX Tân Trung Thành để quản lý vùng trồng sầu riêng Ri6 lên tới 53,27 ha. Ngoài ra, Tổ hợp tác trồng sầu riêng Tân Xuân cũng đã đưa 10,6 ha sầu riêng bước vào đường đua xuất khẩu chính ngạch nhờ xây dựng thành công mã số vùng trồng.

Sự bứt phá không chỉ diễn ra ở những HTX, tổ hợp tác, doanh nghiệp đang tập trung vào sản xuất phân khúc trái cây cao cấp mà lan tỏa rộng khắp sang nhiều loại nông sản khác nhau như HTX Nông nghiệp Thạnh Thắng (Cần Thơ) đưa 323,1 ha khóm của 147 hộ vào hệ thống quản lý mã số. Ở phân khúc rau màu và cây ngắn ngày, HTX Nông sản An toàn Long Trị A (Cần Thơ) với 21,8 ha chuyên canh dưa hấu, xà lách, cải xanh và HTX Nông sản Hữu cơ Samaki (Cần Thơ) với các vùng trồng hành tím đạt chuẩn hữu cơ quy mô 7,86 ha và 9,9 ha đang khẳng định hướng đi bền vững bằng nông nghiệp sạch, minh bạch hóa thông tin bằng tem QR Code truy xuất nguồn gốc.

Chỉ 10% mã số vùng trồng được duy trì giám sát đầy đủ

Trong khâu cấp mã, theo các chuyên gia, không ít HTX và nông dân trên cả nước vẫn chưa nắm vững các quy định, điều kiện và yêu cầu kỹ thuật khắt khe của nước nhập khẩu. Hệ quả là hồ sơ đăng ký thường xuyên phải bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần, làm chậm tiến độ xuất khẩu của doanh nghiệp bao tiêu.

Quá trình xây dựng mã số vùng trồng ở nhiều HTX vẫn gặp khó khăn nhất định.

Quá trình xây dựng mã số vùng trồng ở nhiều HTX vẫn gặp khó khăn nhất định.

Sự đứt gãy còn nằm ở cấp cơ sở khi một số Ủy ban nhân dân cấp xã chưa tham gia sâu sát trong việc tuyên truyền, vận động cũng như xác nhận sự đồng thuận của các hộ dân tham gia vùng trồng.

Đáng quan ngại hơn là công tác quản lý và duy trì mã số sau khi được cấp. Số liệu từ ngành nông nghiệp cho thấy một nghịch lý: tỷ lệ gửi hồ sơ tự giám sát, duy trì điều kiện mã số vùng trồng trên cả nước hiện còn rất thấp, chỉ đạt khoảng 10% tổng số mã số đã được cấp. Việc ghi chép, lưu trữ nhật ký đồng ruộng bằng sổ tay hay phần mềm số vẫn còn rời rạc, tiềm ẩn nguy cơ bị nước nhập khẩu cảnh báo, thậm chí thu hồi mã số bất cứ lúc nào.

Ông Nguyễn Mạnh Thắng, Giám đốc HTX nông nghiệp Thượng Nông (Phú Thọ), cho biết dù quy tụ hàng chục hộ dân với diện tích lên tới hàng chục hécta chuối, chỉ cần một vài hộ thành viên lơ là, không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình quản lý dịch hại hoặc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, toàn bộ mã số vùng trồng của cả HTX sẽ đứng trước nguy cơ bị đình chỉ.

Đối với vùng trồng sầu riêng có tổng diện tích 573ha của HTX Dịch vụ nông nghiệp Hiệp Đức (Đồng Tháp), áp lực ghi chép nhật ký sản xuất để minh bạch hóa tem QR Code vẫn là một thử thách lớn đối với năng lực quản trị của ban điều hành HTX.

Bên cạnh đó, công tác quản lý của chính quyền địa phương cũng bộc lộ khoảng trống. Việc xem xét, xác nhận hồ sơ ủy quyền sử dụng mã số tại cấp xã dù đã triển khai nhưng công tác theo dõi, tổng hợp và báo cáo kết quả liên kết hàng năm chưa được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Việc chậm trễ trong xác nhận hồ sơ liên quan đến vùng trồng, cơ sở đóng gói tại một số địa phương đang vô tình bó buộc dòng chảy xuất khẩu của doanh nghiệp.

Muốn đi xa, nông sản cần cả mã số vùng trồng và thương hiệu

Theo các chuyên gia kinh tế nông nghiệp, mã số vùng trồng không thay thế cho quyền sở hữu trí tuệ, nhưng nó là điều kiện đủ, là bảo chứng kỹ thuật để hiện thực hóa giá trị của tài sản trí tuệ khi HTX muốn đưa nông sản, hàng hóa vào các thị trường quốc tế.

Nếu như nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý là định danh về mặt luật pháp, khẳng định quyền sở hữu và uy tín thương hiệu của một vùng đặc sản; thì mã số vùng trồng chính là công cụ kỹ thuật thực thi để chứng minh sản phẩm đó đạt chuẩn chất lượng đúng như cam kết bảo hộ.

TS. Trần Hữu Phúc, Trường Nông nghiệp-Đại học Cần Thơ, cho rằng một nông sản có chỉ dẫn địa lý tốt nhưng không có mã số vùng trồng thì không thể thông quan. Ngược lại, có mã số vùng trồng mà thiếu đi sự bảo hộ về mặt sở hữu trí tuệ thì sản phẩm rất dễ bị tổn thương, bị lạm dụng thương hiệu hoặc bị ép giá trên thị trường quốc tế. Đây là hai mặt không thể tách rời của một tấm hộ chiếu xuất khẩu chính ngạch.

Nhìn từ câu chuyện thực tế của Cần Thơ, khi Công ty Trái cây Chánh Thu bắt tay cùng HTX Tân Trung Thành để quản lý vùng trồng sầu riêng Ri6 quy mô 53,27 ha, cái bắt tay này không chỉ dừng lại ở việc chia sẻ một mã số định danh trên hệ thống của GACC (Trung Quốc). Đó là sự cộng hưởng giữa một bên là doanh nghiệp có năng lực kinh doanh, sở hữu thương hiệu thương mại được bảo hộ, và một bên là HTX sở hữu tài sản trí tuệ cộng đồng (vùng nguyên liệu đặc sản) được số hóa và chuẩn hóa bằng mã số vùng trồng.

Khi mã số vùng trồng được kết hợp đồng bộ với việc minh bạch hóa thông tin bằng tem QR Code truy xuất nguồn gốc như cách làm của HTX Nông sản Hữu cơ Samaki hay HTX Long Trị A, tài sản trí tuệ của HTX không còn là danh hiệu trên giấy chứng nhận, mà đã chuyển hóa thành giá trị kinh tế trực tiếp trong từng container hàng xuất khẩu.

Do đó, việc đầu tư cho mã số vùng trồng gắn liền với bảo hộ sở hữu trí tuệ tại các HTX hiện nay chính là chìa khóa để giải bài toán chuyển dịch từ tư duy thương mại nông sản thô, ẩn danh sang kinh doanh nông sản có thương hiệu, có bản sắc và được bảo hộ pháp lý toàn cầu.

Tùng Lâm

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/ma-so-vung-trong-mo-duong-cho-htx-tham-gia-sau-hon-vao-chuoi-xuat-khau.html