Mạch nguồn văn hóa
ĐNCT - Qua nhiều thế hệ, từ những cánh rừng, người Cơ Tu đã tích lũy một hệ thống tri thức dân gian phong phú về đặc tính của từng loài cây, cách khai thác và chế biến vật liệu, cũng như những quy tắc ứng xử với tự nhiên.

Nghệ nhân làm gốm Cơ Tu sử dụng thực vật tự nhiên trong tạo hình đồ gốm. Ảnh: H.S
Di sản tri thức về thực vật được hình thành từ quá trình con người quan sát, trải nghiệm và thích nghi với môi trường sống, kết tinh trong cả kỹ năng lao động lẫn đời sống tinh thần của cộng đồng.
Mỗi loài cây đều có công dụng riêng
Trong đời sống truyền thống của người Cơ Tu, rừng cung cấp thực phẩm, vật liệu dựng nhà, nguyên liệu thủ công và cây thuốc dân gian. Đáng chú ý là khả năng nhận biết, lựa chọn từng loài cây phù hợp với mục đích sử dụng - từ dựng nhà, chạm khắc đến chế tác gốm.
Những lựa chọn ấy là kết quả của kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ, được truyền lại bằng quan sát, chỉ dẫn và thực hành trực tiếp. Nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc gỗ Cơ Tu năm 2024 của Bảo tàng Quảng Nam (nay là Bảo tàng Đà Nẵng, cơ sở 2), qua 232 phiếu khảo sát và kiểm kê tại 104 nhà gươl, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa nghề thủ công với thực vật rừng.
Khảo sát nghề gốm tại thôn Ki’nonh, vùng A Xan, tháng 9/2023 cũng ghi nhận cách sử dụng cây cỏ tinh tế trong từng công đoạn chế tác. Tri thức thực vật không tách rời đời sống mà hiện diện trong cách chọn cây, làm công cụ, xử lý nguyên liệu và hoàn thiện sản phẩm, thể hiện khả năng khai thác vật liệu tự nhiên để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sáng tạo văn hóa.
Trong làng Cơ Tu, nhà gươl là công trình cộng đồng gắn với sinh hoạt chung, tín ngưỡng và sự cố kết buôn làng. Việc dựng gươl đòi hỏi người thợ am hiểu đặc tính từng loại gỗ, từ độ bền, thớ gỗ đến khả năng chịu lực và thích ứng với thời tiết miền núi.
Theo tư liệu khảo sát, gỗ dổi và gỗ thọ được dùng cho một số cấu kiện trang trí trên đỉnh mái; gỗ dổi và gỗ chò được chọn làm ván thưng lớn để chạm khắc. Sự khác biệt về kích thước, độ bền và khả năng gia công đòi hỏi người thợ phải nhận biết, lựa chọn cây phù hợp ngay từ trong rừng.
Trên cấu kiện nhà gươl, hình chim, gà trống, đầu trâu và hoa văn hình học được thể hiện bằng kỹ thuật chạm khắc thủ công. Hình ảnh tre nứa cũng xuất hiện trong trang trí, gợi nhắc những loài cây gắn với nghề đan lát, dựng nhà và chế tác nhạc cụ truyền thống.
Thực vật còn tham gia trực tiếp vào quá trình hoàn thiện tác phẩm. Người Cơ Tu sử dụng lá chặc chìu, một loài dây leo thân gỗ, để chà xát, làm nhẵn bề mặt sau khi đẽo gọt, giúp xử lý những chỗ xơ ráp trước khi trang trí.
Trong kỹ thuật tạo màu, tà râm được dùng tạo sắc đen, củ nâu cho màu đỏ; ngoài ra còn có than gỗ và khoáng chất tự nhiên. Những sắc màu này góp phần tăng sức biểu cảm cho tượng, phù điêu, cột lễ và tạo nên nét riêng trong nghệ thuật Cơ Tu.
Đằng sau mỗi hình chạm hay mảng màu trên vách gươl là tri thức về đặc tính và cách sử dụng thực vật. Vì vậy, điêu khắc gỗ không chỉ đòi hỏi kỹ năng sử dụng công cụ mà còn là sự kết tinh của kinh nghiệm bản địa, được chuyển hóa thành kỹ thuật và thẩm mỹ.
Những chiếc nồi đất và bí quyết từ cây cỏ
Nếu nghệ thuật điêu khắc gỗ cho thấy khả năng làm chủ vật liệu rừng, nghề gốm truyền thống tại Ki’nonh lại đem đến một ví dụ sinh động về cách người Cơ Tu kết hợp nhiều nguồn vật liệu tự nhiên trong một quy trình chế tác.
Trong khảo sát thực địa năm 2023, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã cùng cộng đồng tái hiện các công đoạn làm gốm, từ khai thác đất sét, nhào luyện, tạo hình đến nung ngoài trời. Một trong những điểm đặc sắc là người thợ không sử dụng bàn xoay mà tạo hình bằng tay, di chuyển xung quanh khối đất và điều chỉnh hình dáng bằng những dụng cụ đơn giản.
Ở công đoạn tạo hình, cánh hoa chuối rừng được dùng để ép và uốn vành miệng nồi. Bề mặt trơn cùng độ mềm của cánh hoa giúp bàn tay nghệ nhân thao tác trên đất sét ướt mà hạn chế làm rách hoặc biến dạng mép gốm. Lá chuối tươi được đặt dưới khối đất trong giai đoạn tạo phôi, hỗ trợ việc dịch chuyển và hạn chế phôi dính vào nền. Lá mướp cũng được dùng để kê sản phẩm, giúp người thợ thao tác thuận tiện hơn.
Một thanh nhỏ làm từ thân hoặc vỏ mía được sử dụng để miết bề mặt phôi gốm. Khi đất đã se cứng, nghệ nhân chuyển sang dùng vòng cật tre để nạo gọt, điều chỉnh độ dày thành và hoàn thiện dáng nồi. Mỗi loại vật liệu đảm nhận một chức năng riêng, phù hợp với trạng thái của đất ở từng công đoạn.
Các dụng cụ ấy thoạt nhìn giản dị, nhưng cách sử dụng cho thấy sự tích lũy kinh nghiệm lâu dài. Người thợ phải hiểu lúc nào đất còn đủ mềm để tạo hình, khi nào cần để phôi se lại, và vật liệu nào có thể tiếp xúc với bề mặt mà không làm hỏng sản phẩm. Thực vật, vì thế, không chỉ là nguồn nguyên liệu thay thế công cụ hiện đại mà còn là một phần cấu thành kỹ nghệ truyền thống.
Ở công đoạn nung, việc lựa chọn củi và kiểm soát quá trình đốt cũng đòi hỏi kinh nghiệm về nguồn sinh khối tại địa phương. Toàn bộ chu trình làm gốm cho thấy sự phối hợp giữa hiểu biết về đất, nước, cây rừng, nhiệt và thao tác thủ công. Qua đó, nghề gốm Cơ Tu trở thành một trường hợp tiêu biểu để nhận diện mối quan hệ giữa tri thức bản địa với môi trường sinh thái Trường Sơn.
Giữ tri thức bản địa cũng là giữ gìn di sản rừng
Sự phổ biến của vật liệu công nghiệp, biến đổi trong sinh hoạt và mai một của nghề thủ công đang đặt ra thách thức đối với việc trao truyền tri thức thực vật của người Cơ Tu. Khi nghệ nhân am hiểu kỹ thuật ngày càng cao tuổi, những bí quyết chọn cây, chế biến vật liệu và truyền nghề có nguy cơ thất truyền.
Từ nghề gốm Ki’nonh đến nghệ thuật điêu khắc gỗ, bảo tồn không chỉ là lưu giữ sản phẩm mà còn phải ghi chép quy trình chế tác, phương pháp tạo màu, nguồn nguyên liệu và quan niệm văn hóa liên quan. Những giải pháp thiết thực gồm xây dựng cơ sở dữ liệu về cây có ích, ghi hình quy trình thực hành, hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề và khuyến khích khai thác nguyên liệu bền vững.
Đặc biệt, đồng bào Cơ Tu cần được bảo đảm vai trò chủ thể trong nghiên cứu và diễn giải di sản. Bảo tồn không chỉ dừng ở thu thập tư liệu mà phải tạo điều kiện để tri thức tiếp tục được thực hành, trao truyền và thích ứng với đời sống hiện đại.
Từ cây gỗ dựng nhà gươl, lá chặc chìu làm nhẵn mặt gỗ đến cánh hoa chuối rừng tạo hình nồi đất, tri thức về thực vật cho thấy mối gắn bó giữa con người với tự nhiên, đồng thời kết tinh những giá trị thẩm mỹ, xã hội và tâm linh của cộng đồng.
Vì vậy, gìn giữ tri thức về thực vật cũng là bảo vệ ký ức văn hóa, kinh nghiệm sinh thái và cách ứng xử với rừng được tích lũy qua nhiều thế hệ. Khi tiếp tục được thực hành và truyền trao, tri thức ấy giúp di sản rừng Trường Sơn hiện diện không chỉ trong cảnh quan tự nhiên mà còn trong đời sống và bản sắc văn hóa Cơ Tu hôm nay.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mach-nguon-van-hoa-3356384.html

