Quỳ Quốc công Lê Khang: Một đời phò tá cơ nghiệp nhà Lê
Lê Khang - cháu ruột vua Lê Thái Tổ - tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, lặng lẽ dốc sức và cống hiến, được Bình Định vương Lê Lợi tin tưởng giao phó những trọng trách, ông cũng chính là tổ 5 đời của vua Lê Anh Tông thời Trung hưng.

Đất Lam Sơn là quê hương của Quỳ Quốc công Lê Khang.
Khai quốc công thần
Nếu so với những danh tướng uy dũng nơi trận tiền, gắn liền với những chiến công, trận đánh lưu danh sử sách, tên tuổi Lê Khang có phần mờ nhạt?! Song không vì thế mà xem nhẹ những cống hiến của ông cho cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược cũng như sự phò tá cho cơ nghiệp nhà Lê.
Lê Khang (có tài liệu viết Lê Khương) quê ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa nay là xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông là con trai Lê Trừ - anh trai Lê Lợi.
Giặc Minh xâm lược nước ta, bởi sự tàn ác, chúng gieo rắc tội ác khắp nơi, đến nỗi: “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội; dơ bẩn thay, nước Đông Hải không không rửa sạch mùi”. Từ mối căm hận với giặc Minh bạo tàn, Bình Đình vương Lê Lợi nơi đất Lam Sơn đã phất cờ khởi nghĩa, với khát vọng: “Ta dấy quân đánh giặc không phải vì tham phú quý mà vì muốn cho ngàn đời sau biết rằng ta không chịu thần phục quân giặc tàn ngược” (sách Đại Việt sử ký toàn thư).
Theo sách Lam Sơn thực lục, để nuôi chí lớn, Lê Lợi “giấu mình ở đất Lam Sơn làm nghề cày cấy, chuyên tâm đọc sách thao lược, dốc sạch của cải, đãi khách khứa rất hậu, đón mời người trốn tránh, thu nạp kẻ chống đối (nhà Minh), ngấm ngầm nuôi giấu những kẻ mưu trí...”.
Trong những ngày Lê Lợi ẩn nhẫn chờ thời, Lê Khang đã theo chú giúp sức. “Lê Khang đã thực hiện trọng trách bí mật tập hợp nhân tài, vật lực và xây dựng khu căn cứ Khả Lam (Lam Sơn). Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong những ngày đầu nhen lửa của cuộc khởi nghĩa. Lam Sơn động chủ đã dành nhiều công sức, chỉ dẫn cẩn thận những người thân tín, trong đó có Lê Khang cách thức bí mật xây dựng khu căn cứ Khả Lam thành nơi thu hút hiền tài, nơi trú quân, luyện tập bước đầu; nơi rèn vũ khí, canh tác sản xuất, chuẩn bị lương thảo... Với chức năng như vậy, căn cứ Khả Lam không chỉ bó hẹp như khu Lam Sơn ngày nay, mà chu vi rộng lớn hơn, vượt ra các vùng lân cận tới Kiên Thọ, Nguyệt Ấn, Lũng Nhai...” (sách Danh nhân Thanh Hóa).
Có sức vóc, nhanh nhẹn lại thông thạo địa bàn, dù tuổi còn trẻ, Lê Khang không quản hiểm nguy, đêm ngày cùng những người thân tín của Lê Lợi dốc sức chuẩn bị. Không chỉ vậy, ông còn tham gia vào việc lập các “vọng gác, chốt chặn” ở nhiều ngả vào Lam Sơn để đón anh hùng, hào kiệt về tụ nghĩa, nhưng cũng đồng thời để phát hiện kịp thời việc nhòm ngó từ giặc Minh và tay sai.
Lê Khang cùng các nghĩa sĩ cũng đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ Lê Lợi và 18 hào kiệt- “Bộ chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn” thực hiện thành công Hội thề Lũng Nhai năm 1416.
Giai đoạn từ 1416-1418 gấp rút cho khởi nghĩa Lam Sơn, nhiệm vụ của Lê Khang càng nặng nề hơn. Ông phải chỉ huy nghĩa quân đêm ngày canh gác cẩn mật bởi lúc bấy giờ, thanh thế của Phụ đạo Khả Lam Lê Lợi và những sự chuẩn bị khởi nghĩa đã khiến kẻ cai trị chú ý, tìm cách tiêu diệt.
Năm 1418, khi thời cơ đã đến, từ đất Lam Sơn, Lê Lợi xưng Bình Định vương dựng cờ khởi nghĩa, kêu gọi Nhân dân cùng chung sức đánh giặc, cứu nước. Theo Lam Sơn thực lục và Đại Việt thông sử, lực lượng khởi nghĩa ban đầu gồm 51 tướng võ và một số văn thần, cùng với đó là quân thiết đột, nghĩa sĩ, dũng sĩ... Trong số tướng võ, tên Lê Khang đứng đầu, ông cũng là một trong những tướng trẻ nhất trong buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa.
Một điều đặc biệt, trong những trận đánh của khởi nghĩa Lam Sơn, tên ông lại ít được nhắc đến. Tuy nhiên, khi khởi nghĩa Lam Sơn thành công, Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Lê, với những công lao to lớn, Lê Khang được xếp vào hàng công thần khai quốc.
Phò tá minh quân
Làm quan nhà Lê, ban đầu ông giữ chức Đại tri phủ lộ Lạng Sơn, sau đó khi trở về triều, ông giữ chức Nhập nội Thị Trung, rồi thăng chức Thái úy, đứng đầu hàng võ quan. Dưới thời vua Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thái úy Lê Khang luôn một lòng trung quân, được vua quý trọng.

Quỳ Quốc công Lê Khang là cháu ruột của vua Lê Thái Tổ (ảnh chụp tại khu lăng mộ vua Lê Thái Tổ).
Năm 1459, xảy ra loạn Nghi Dân, triều đình nhà Lê rơi vào cảnh rối loạn. Sau khi gây binh biến, lật đổ vua Lê Nhân Tông, Lê Nghi Dân lên ngôi. Tuy nhiên, vì sự bất chính, vô đạo nên khiến lòng người bất phục, các quan đại thần trong triều đã bàn nhau bắt giết. Trong số quan lại tham gia dẹp loạn Nghi Dân, có Thái úy Lê Khang.
Lê Nghi Dân bị phế, Thái tử Lê Tư Thành với thiên tư thông minh, đức sáng đã được tôn lên làm vua - tức vua Lê Thánh Tông. Ổn định việc triều chính, vua Lê Thánh Tông đã phong thưởng cho những người tham gia phế Lê Nghi Dân. Trong đó, “Phong công thần Nguyễn Xí làm Quỳ Quận công, Đinh Liệt làm Lân Quận công, Thái bảo Lễ Sơn hầu Lê Niệm làm Thái phó Kỳ Quận công, Lê Thọ Vực làm Tả Đô đốc Tham nghị triều chính, Chưởng điện tiền ty Nguyễn Lỗi làm Hữu đô đốc chưởng Hình bộ, Lê Khang làm Văn Chấn hầu” (sách Đại Việt sử ký toàn thư). Sau khi mất, Thái úy Lê Khang được vua Lê Thánh Tông truy phong Quỳ Quốc công.
Lại nói, vương triều hậu Lê sau những năm tháng phát triển thịnh trị đã dần suy yếu, đỉnh điểm là quan đại thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Các cựu thần nhà Lê khi đó, đứng đầu là Nguyễn Kim đã khởi sự Trung hưng nhà Lê, về sau sự nghiệp trung hưng được tiếp nối bởi Trịnh Kiểm (con rể Nguyễn Kim). Khi vua Lê Trung Tông qua đời mà không có người nối dõi, Thái sư Lạng Quốc công Trịnh Kiểm đã sai người tìm con cháu họ Lê để lập lên ngôi. Bấy giờ, Lê Duy Bang đã được đưa lên ngôi - tức vua Lê Anh Tông. Theo sử liệu, Lê Duy Bang là cháu 5 đời của Quỳ Quốc công Lê Khang. Cũng bởi vậy, về sau Lê Khang đã được tôn phong Hiển Công Vương.
Về những đóng góp của khai quốc công thần Lê Khang, theo nhà nghiên cứu lịch sử Hoàng Hùng: “Ông là một nhân vật lịch sử khá đặc biệt. Là cháu ruột của vua Lê Thái Tổ, công lao của ông với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và các triều đại nhà Lê đã rõ, nhưng lại không được sử liệu ghi chép nhiều. Cuộc đời làm quan vinh hiển, có nhiều đóng góp, lại là tổ 5 đời của vua Lê Anh Tông song hiện nay, việc thờ tự ông có rất ít tài liệu nhắc đến. Dẫu vậy, không thể vì thế mà lãng quên ông - bậc khai quốc công thần trung nghĩa”.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức, 2026; Danh nhân Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, 2006).

