Mặt bằng lãi suất chưa hết áp lực khi nhu cầu vốn ở mức cao

Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tiếp tục nới rộng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế ở mức cao. Theo các chuyên gia, dù thanh khoản ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng đã cải thiện, áp lực huy động vốn, chi phí đầu vào và mất cân đối kỳ hạn vẫn khiến dư địa giảm lãi suất ngày càng thu hẹp.

Tín dụng tăng nhanh, huy động vốn chưa theo kịp

Báo cáo tài chính quý II/2026 của nhiều ngân hàng cho thấy tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn nguồn vốn huy động. Đây cũng là xu hướng chung của toàn hệ thống trong nửa đầu năm. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% so với cuối năm 2025, trong khi tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,41%. Như vậy, tốc độ tăng tín dụng cao hơn huy động vốn gần 2,4 điểm phần trăm. Khoảng cách này thể hiện khá rõ tại một số ngân hàng có tốc độ mở rộng tín dụng cao. Tại Techcombank, tổng tài sản đến cuối quý II đạt hơn 1,273 triệu tỷ đồng, tăng 6,9% so với quý trước và 22,7% so với cùng kỳ. Tăng trưởng tín dụng sau sáu tháng đạt 11,6%, trong khi tiền gửi khách hàng đạt 697.413 tỷ đồng, chỉ tăng khoảng 4,8% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi của ngân hàng ở mức 80,1%, còn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tăng lên 27,8%.

Mặt bằng lãi suất tiếp tục chịu nhiều áp lực - ảnh: ST

Mặt bằng lãi suất tiếp tục chịu nhiều áp lực - ảnh: ST

VPBank cũng ghi nhận tín dụng đạt gần 1,06 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 6, tăng 24,6% so với cuối năm trước. Trong khi đó, quy mô tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá hợp nhất đạt gần 902.000 tỷ đồng, tăng 22,7%. Dù huy động tăng mạnh, tốc độ này vẫn thấp hơn mức tăng tín dụng. Tỷ lệ cho vay trên huy động của VPBank đã ở mức 84,5%.

Tại LPBank, huy động vốn trên thị trường 1 đạt 432.535 tỷ đồng, tăng 8% so với đầu năm; trong khi dư nợ cho vay khách hàng đạt 429.465 tỷ đồng, tăng 10%. Riêng trong quý II, dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng thêm khoảng 26.000 tỷ đồng.

Số liệu cập nhật đến ngày 10/7 của Công ty Chứng khoán ACBS tiếp tục cho thấy tình trạng trên. Theo ACBS, tăng trưởng tín dụng đạt 7,91% so với đầu năm, cao hơn đáng kể mức tăng trưởng huy động 6,07%. Chênh lệch giữa quy mô tín dụng và huy động vốn của hệ thống được ước tính lên tới khoảng 2,7 triệu tỷ đồng. Từ đó, nhóm phân tích cho rằng mặt bằng lãi suất trong nước khó có nhiều dư địa giảm trong ngắn hạn. Không chỉ chịu áp lực về tốc độ tăng trưởng, hệ thống ngân hàng còn phải giải quyết sự mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn đầu vào và nhu cầu vay vốn.

Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho biết khoảng 80% nguồn vốn huy động trong hệ thống hiện nay là vốn ngắn hạn, trong khi nguồn vốn trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%. Trong khi đó, nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các dự án đầu tư quy mô lớn, vẫn rất cao.

Theo Thống đốc, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, các ngân hàng sẽ buộc phải tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi. Khi chi phí vốn đầu vào tăng, lãi suất cho vay cũng khó tránh khỏi xu hướng đi lên, từ đó làm gia tăng chi phí tài chính của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Cần san sẻ áp lực vốn với hệ thống ngân hàng

Một tín hiệu tích cực là thanh khoản ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng đã cải thiện rõ rệt trong những tuần gần đây. Theo Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam, lãi suất vay mượn qua đêm giữa các ngân hàng trong phiên 28/7 giảm xuống 2,2%/năm, thấp nhất kể từ đầu năm. Đây cũng là phiên thứ hai liên tiếp lãi suất qua đêm duy trì tại vùng đáy.

Tuy nhiên, lãi suất ở các kỳ hạn dài hơn vẫn cao, với kỳ hạn một tuần ở mức 4,55%/năm, hai tuần 5,3%/năm và một tháng 6,9%/năm. Chênh lệch lớn giữa lãi suất qua đêm và các kỳ hạn dài cho thấy thanh khoản tức thời được cải thiện, nhưng các ngân hàng vẫn thận trọng đối với triển vọng nguồn vốn trong thời gian tới.

Nói cách khác, sự hạ nhiệt của lãi suất liên ngân hàng chủ yếu giúp giảm bớt chi phí vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng, nhưng chưa xử lý được sự mất cân đối mang tính cơ cấu giữa tín dụng và huy động trên thị trường 1.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ tháng 6, MBS cho biết lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại vẫn ở mức khoảng 8,4%/năm, cao hơn 2,59 điểm phần trăm so với đầu năm. Mức lãi suất này phản ánh nhu cầu duy trì nguồn vốn ổn định nhằm đáp ứng tốc độ mở rộng tín dụng.

Các chuyên gia MBS nhận định, việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí vốn, từ đó gây sức ép lên NIM. Trong khi đó, yêu cầu tiếp tục giảm hoặc ổn định lãi suất cho vay khiến các ngân hàng khó chuyển toàn bộ phần chi phí đầu vào tăng thêm sang khách hàng, làm biên lãi ròng tiếp tục chịu sức ép.

Áp lực huy động vốn cũng được lãnh đạo các ngân hàng thương mại phản ánh. Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho biết, các ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc bố trí đủ nguồn vốn cung ứng tín dụng, cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí đầu vào, bảo đảm nguồn cung ngoại tệ và xử lý các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm.

Theo ông Tùng, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, tổng vốn đầu tư của nền kinh tế cần tương đương khoảng 40% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước theo tính toán của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank mới đạt khoảng 36,5% GDP và còn thấp hơn nếu loại trừ khu vực kinh tế phi chính thức. Lãnh đạo Vietcombank cho biết ngân hàng tuân thủ định hướng của Chính phủ và NHNN về giữ ổn định mặt bằng lãi suất huy động. Tuy nhiên, nguồn vốn của ngân hàng này đang huy động bị thiếu so với nhu cầu để tăng trưởng tín dụng. Vì vậy, bên cạnh nguồn vốn trong nước, cần mở rộng việc huy động vốn từ các thị trường quốc tế và phát triển những kênh dẫn vốn trung, dài hạn khác.

Áp lực vốn sẽ còn lớn khi nhu cầu đầu tư của nền kinh tế tiếp tục tăng nhanh. Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng, NHNN cho biết, đến ngày 13/7, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Tỷ lệ tín dụng trên GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ngân hàng.

Theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, dư địa giảm lãi suất cho vay vẫn còn nhưng không lớn. Việc điều chỉnh lãi suất cần được thực hiện thận trọng, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp với yêu cầu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và giữ an toàn hệ thống ngân hàng.

Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc giữ ổn định mặt bằng lãi suất sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng thu hẹp khoảng cách giữa huy động và tín dụng. Về phía các ngân hàng, yêu cầu đặt ra là tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, đa dạng hóa kỳ hạn và nguồn vốn, đồng thời kiểm soát tốc độ tăng tín dụng phù hợp với năng lực thanh khoản.

Về dài hạn, phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các định chế tài chính phi ngân hàng là giải pháp cần thiết để cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Khi gánh nặng cung ứng vốn không còn tập trung quá lớn vào hệ thống ngân hàng, áp lực huy động vốn và lãi suất mới có thể được giảm bớt một cách bền vững.

Quỳnh Trang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/mat-bang-lai-suat-chua-het-ap-luc-khi-nhu-cau-von-o-muc-cao-185603.html