Phát triển hạ tầng: Từ đột phá chiến lược đến yêu cầu kiểm toán đánh giá hiệu quả đầu tư
Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong ba đột phá chiến lược, giữ vai trò mở đường cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Khi Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động hiệu quả các nguồn lực mà còn phải bảo đảm mỗi dự án tạo ra giá trị kinh tế - xã hội thiết thực, mỗi đồng vốn công được sử dụng đúng mục đích, phát huy hiệu quả cao nhất. Thực tiễn đó đặt Kiểm toán nhà nước (KTNN) phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng kiểm toán, tăng cường đánh giá hiệu quả đầu tư, qua đó góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng nguồn lực công, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Bài 1: Đột phá chiến lược, "mở đường" cho phát triển đất nước
Xuyên suốt nhiều kỳ Đại hội, Đảng nhất quán xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong ba đột phá chiến lược, thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc tạo lập nền tảng cho phát triển đất nước. Trong giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia ngày càng cao, chủ trương này tiếp tục được khẳng định, bổ sung và hiện thực hóa bằng nhiều chương trình đầu tư quy mô lớn, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.

Thông qua kiểm toán, hiệu quả các dự án hạ tầng sẽ được đánh giá toàn diện hơn. Ảnh: TL
Bước chuyển về tư duy phát triển hạ tầng
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, kết cấu hạ tầng luôn được xem là "mạch máu" của nền kinh tế, giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng và mở rộng không gian phát triển. Chủ trương phát triển hạ tầng được thể hiện xuyên suốt qua các kỳ Đại hội của Đảng, phản ánh sự phát triển nhất quán trong tư duy lãnh đạo.NHÓM PHÓNG VIÊN
Bước ngoặt quan trọng diễn ra tại Đại hội XI (năm 2011), khi lần đầu tiên phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ được xác định là một trong ba đột phá chiến lược. Chủ trương này đánh dấu bước chuyển từ tư duy đầu tư đơn lẻ sang phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, liên kết; tập trung tháo gỡ những "điểm nghẽn" về giao thông, logistics, năng lượng và đô thị, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XII (năm 2016) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu thực hiện hiệu quả đột phá chiến lược về hạ tầng. Đến Đại hội XIII (năm 2021), nội hàm phát triển hạ tầng được mở rộng với yêu cầu xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; ưu tiên đầu tư các công trình giao thông trọng điểm quốc gia, hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng cho chuyển đổi số, kinh tế số và xã hội số.
Bước vào giai đoạn mới, Đại hội XIV (năm 2026) tiếp tục khẳng định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là đột phá chiến lược, gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, tăng cường liên kết vùng và kết nối khu vực, toàn cầu.
PGS,TS. Nguyễn Hồng Thái - Trưởng khoa Vận tải kinh tế, Trường Đại học Giao thông Vận tải - nhận định: Từ Đại hội XI đến Đại hội XIV, quan điểm phát triển hạ tầng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với bối cảnh mới. Điều đó cho thấy tầm nhìn chiến lược và sự nhất quán trong định hướng phát triển hạ tầng của Đảng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trao đổi với Báo Kiểm toán, PGS,TS. Bùi Thị Ngọc - Trưởng khoa Kế toán và Kinh doanh, Trường Đại học Thủy lợi - cho rằng, sự nhất quán trong chủ trương phát triển hạ tầng suốt hơn một thập kỷ qua phản ánh quy luật phát triển đã được cả lý luận và thực tiễn kiểm chứng. Theo bà, các dự án hạ tầng quy mô lớn đều có chu kỳ chuẩn bị và triển khai kéo dài nhiều năm, vì vậy sự nhất quán về chủ trương giúp bảo đảm tính liên tục trong bố trí nguồn lực và duy trì cam kết chính trị, tạo điều kiện để các dự án được triển khai xuyên suốt qua nhiều nhiệm kỳ.
Tuy nhiên, sự nhất quán không đồng nghĩa với việc giữ nguyên cách tiếp cận. Nội hàm của đột phá chiến lược về hạ tầng luôn được bổ sung theo yêu cầu phát triển. Nếu tại Đại hội XI và XII, trọng tâm là hạ tầng giao thông và đô thị thì đến Đại hội XIII đã mở rộng sang hạ tầng số và viễn thông. Đại hội XIV tiếp tục bổ sung các lĩnh vực như giao thông đa phương thức, hạ tầng năng lượng, hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Đồng thời, thước đo hiệu quả cũng chuyển từ khối lượng đầu tư sang hiệu quả sử dụng nguồn lực và giá trị kinh tế - xã hội mà mỗi dự án mang lại.
Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030 mà Đại hội XIV đề ra càng đòi hỏi một nền tảng hạ tầng đủ mạnh để thúc đẩy nền kinh tế tăng tốc. "Không có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại thì mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ thiếu nền tảng để hiện thực hóa. Đó cũng là lý do phát triển hạ tầng tiếp tục được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn phát triển mới", bà Ngọc nhấn mạnh.
Kiểm toán - "mắt xích" của quản trị đầu tư công hiện đại
Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là yêu cầu khách quan của giai đoạn phát triển mới và khát vọng vươn lên của dân tộc. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Việt Nam phải khai thác, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; ưu tiên các dự án trọng điểm có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thực chất và góp phần củng cố hệ thống kết cấu hạ tầng then chốt của quốc gia.
Định hướng này được cụ thể hóa bằng chương trình đầu tư hạ tầng có quy mô lớn chưa từng có. Hơn 3.000km đường cao tốc cùng hàng loạt dự án chiến lược về hàng không, cảng biển, đường sắt, chuyển đổi năng lượng, hạ tầng số... đang được triển khai với nguồn vốn đầu tư công rất lớn, mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng, tạo động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trao đổi với Báo Kiểm toán, TS. Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ - nhận định: "Hơn 80 năm kể từ khi thành lập nước, chưa khi nào Việt Nam triển khai một chương trình đầu tư công có quy mô lớn như giai đoạn 2026-2030".
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, với tổng nguồn vốn khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 không chỉ tạo cơ hội đột phá về kết cấu hạ tầng mà còn đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác quản trị, giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư. Khi quy mô nguồn lực ngày càng lớn, hiệu quả đầu tư công không thể chỉ được đo bằng tỷ lệ giải ngân hay số lượng công trình hoàn thành mà phải được đánh giá thông qua giá trị kinh tế - xã hội mà dự án mang lại. Đây cũng là bước chuyển từ tư duy quản lý theo đầu vào và tiến độ sang quản trị theo kết quả đầu ra và hiệu quả đầu tư.
Trong bối cảnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và đặc biệt là kiểm toán giữ vai trò ngày càng quan trọng, đồng thời cần tiếp tục được đổi mới để đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. PGS,TS. Nguyễn Hồng Thái cho rằng, nếu kiểm toán chỉ dừng ở việc đánh giá tính tuân thủ pháp luật và kiến nghị xử lý tài chính thì chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà một dự án đầu tư công mang lại cho nền kinh tế - xã hội. Vì vậy, KTNN cần tăng cường kiểm toán hoạt động, tập trung đánh giá mức độ đạt được mục tiêu đầu tư, khả năng khai thác công trình, tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, liên kết vùng, chất lượng môi trường và mức độ hài lòng của người dân.
Khi đất nước bước vào chu kỳ phát triển hạ tầng với quy mô lớn, yêu cầu bảo đảm hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực công trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh đó, kiểm toán chính là công cụ bảo vệ nguồn lực công. Bởi mỗi đồng vốn bị thất thoát, lãng phí hoặc sử dụng kém hiệu quả không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư mà còn làm suy giảm nguồn lực cho phát triển.
PGS,TS. Bùi Thị Ngọc - Trưởng khoa Kế toán và Kinh doanh, Trường Đại học Thủy lợi
Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, KTNN cần trở thành một "mắt xích" quan trọng trong hệ thống quản trị quốc gia hiện đại. Thông qua kiểm toán, hiệu quả các dự án hạ tầng sẽ được đánh giá toàn diện hơn, bảo đảm đột phá chiến lược về hạ tầng không chỉ được đo bằng số lượng công trình hay số ki-lô-mét đường hoàn thành mà được chuyển hóa thành giá trị phát triển thực chất cho nền kinh tế và đời sống người dân.
Vậy KTNN đã hiện thực hóa yêu cầu đó như thế nào qua thực tiễn kiểm toán các dự án đầu tư? Câu trả lời sẽ được làm rõ trong bài viết tiếp theo./.











