Miếu làng tôi ngày ấy...

Bây giờ về quê, ngang qua ngôi miếu làng (nay được xây lại không bề thế, uy nghiêm như xưa), tôi vẫn thường cúi đầu tưởng niệm, đinh ninh lời mẹ dặn năm xưa.

Miếu làng. Ảnh minh họa

Miếu làng. Ảnh minh họa

Người trẻ trong làng dường như không quan tâm mấy, không còn xem miếu là biểu tượng thiêng liêng như lớp tôi thuở trước.

Nơi chốn linh thiêng

Làng tôi ngày ấy là một cồn cát phía tả ngạn dòng sông Trường Giang. Bên kia là vùng đất Quảng Phú Đông. Chỉ cách một dòng sông nhưng bên này là xã Kỳ Hưng (xã Tam Xuân ngày nay) còn bên kia ấp Quảng Phú Đông thuộc về xã Kỳ Phú (nay là thôn Tân Phú, phường Quảng Phú, thành phố Đà Nẵng). Cồn cát bốn bề sông nước lúp xúp cây dại, đặc biệt là cây bồn bồn thấp lè tè với những bông hoa tím trắng…

Vùng cồn hoang sơ ấy đã được các ngư ông dạn dày kinh nghiệm ngày đêm lênh đênh trên sông nước đến khai phá lập làng vào khoảng đầu thế kỷ XX.

Xóm Cồn Phú Tân thuộc xã Kỳ Hưng (nay là xã Tam Xuân) hình thành từ đó. Cùng với việc dựng nhà lập xóm, các cụ nghĩ ngay đến công đức “ơn trên” và lập miếu thờ những vị thần trong làng. Quyên góp kẻ ít người nhiều, dân Phú Tân lúc ấy chừng vài chục hộ đã dựng được ngôi miếu trang nghiêm ngay đầu làng. Miếu (dân làng thường gọi là miễu) được xây theo kiểu cổ, phía trong trang trí những tranh vẽ phong cảnh rất nên thơ.

Trên nóc miễu là những con rồng chầu. Đặc biệt trên bức tường án ngữ phía chính diện miễu có hình con hổ chạm nổi trông rất dữ tợn. Miếu gồm 3 khu thờ: Khu chính giữa là Dinh Bà, bên phải thờ “cô bác”, khu bên trái nhỏ hơn nhưng đây chính là nơi thờ “Ông lớn” rất được nể trọng.

Miếu làng tôi nổi tiếng linh thiêng. Thuở còn đi học, khi đi ngang qua khuôn viên miếu, lũ trẻ chúng tôi phải ngả mũ nón và nín lặng đi qua với lòng thành kính các vị thần. Mẹ tôi từng dặn đi dặn lại, khi qua miếu không được có những hành động thất kính.

Lệ làng gắn kết cộng đồng

Để hương khói và chịu trách nhiệm tổ chức lệ cúng miếu, làng tôi cử một vị cao niên uy tín làm chủ bái. Làng còn sắm đủ bộ trống chiêng, thanh la… để dùng khi hành lễ.

Xưa kia mỗi năm hai lần, vào dịp 16 tháng Giêng và 16 tháng Bảy âm lịch, làng lại tổ chức “lệ” rất linh đình, kinh phí do các gia đình tự nguyện đóng góp. Đến ngày “lệ”, không ai bảo ai, nhà nào cũng có người đến lo toan công việc. Đàn ông thì mổ heo, làm gà, dựng rạp; đàn bà lo chợ búa, nấu nướng, chuẩn bị cỗ bàn.

Khi công việc chuẩn bị xong xuôi, vị chủ bái khăn đóng áo dài chỉnh tề bắt đầu đọc văn cúng; chiêng trống, thanh la nổi lên, trống cơm điểm xuyết… Khi chủ bái cúng tế xong, lại có thêm cả cảnh ngồi nghe phán những điều dự báo lành dữ trong làng. Thực hư thế nào lúc ấy không rõ nhưng trong tâm trí trẻ thơ, tôi thấy giây phút đó thật quan trọng, thiêng liêng, là lúc thế giới vô hình và hữu hình đang giao hòa làm một…

Lại nói về lệ xóm. Khi cúng bái xong, mọi người vào bàn ăn uống rôm rả. Các cụ cao niên ngồi chiếu trong, trai tráng trẻ trung ngồi phía ngoài. Đến dự bữa tiệc hầu như có đầy đủ các thành viên trong mọi gia đình, không phải chỉ có đại diện chủ hộ như cách tổ chức liên hoan bây giờ. Do vậy không khí rất chan hòa, tình làng nghĩa xóm thêm gắn chặt.

Bọn trẻ chúng tôi đi học về, ngang qua miếu đã có người chặn lại, đưa vào chiếu ăn. Nếu không bận đi học, bọn nhóc như chúng tôi ngày ấy sẽ được xếp ngồi ăn trước tiên.

Từ lệ xóm với tiếng chiêng trống vang lừng, tiếng chủ bái đọc văn tế ngân nga, mọi người trong làng dường như thân thiện hơn, quan tâm cho nhau hơn sau những ngày tất bật lao động. Không khí lệ xóm và ngôi miếu làng đã để lại ấn tượng khó quên.

Những ai có xích mích trong cuộc sống thường ngày, hôm cúng miếu cũng tỏ ra thân thiện. Mặc dù lệ cúng miếu cho thần nhưng qua đó cũng thể hiện sự sẻ chia, đồng cam cộng khổ của những người trong làng. Họ cùng nhau cầu xin sự bình yên cho mọi nhà, cùng vui cái vui chung và lo toan những công việc không riêng cho gia đình mình…

Thế rồi cho đến những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, miếu làng tôi thưa vắng dần bóng người đến thắp hương, lệ làng không được duy trì thường xuyên nữa. Rồi ngôi miếu làng ngót nghét 100 tuổi bị một số người đập phá.

Mãi sau này, cha tôi cùng một số vị cao niên trong làng quyên góp xây dựng lại một nhà thờ với danh nghĩa thờ các vị tiền hiền có công lập xóm, nhưng thực chất các cụ vẫn thờ các vị thần như trước. Có điều, hình dáng miếu cổ không còn, thay vào đó các cụ chỉ xây lại nơi thờ tự giống như mái nhà cấp 4 trên nền miếu cũ. Nhưng dẫu sao, các cụ cũng gầy dựng lại hình hài một di tích văn hóa tâm linh của xóm Cồn bốn bề sông nước, bắt đầu khôi phục lệ làng dù quy mô không bằng xưa…

Thời gian gần đây, lệ xóm vẫn còn duy trì nhưng chỉ có những người đại diện gia đình đến dự chứ không đông đủ như thuở nào.

Riêng đối với tôi, cây đa, bến nước, ngôi đình cũng như ngôi miếu làng… thật thiêng liêng. Nơi ấy, cha mẹ tôi cùng những vị cao niên và toàn thể dân làng thuở trước luôn kính cẩn, nghiêng mình. Và trong ký ức tuổi thơ, miếu làng còn là sự tôn kính, là nơi che chở cho dân làng xóm Cồn Phú Tân vốn quanh năm lam lũ…

VĂN PHIN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mieu-lang-toi-ngay-ay-3344002.html