Minh bạch quản lý nông sản bằng mã số vùng trồng

Trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng đang trở thành công cụ quan trọng giúp minh bạch hóa sản xuất nông nghiệp. Tại Thanh Hóa, việc xây dựng và duy trì mã số vùng trồng góp phần nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Vùng trồng vải ngọc của Công ty TNHH Nông nghiệp công nghệ cao Hồ Gươm - Sông Âm.

Vùng trồng vải ngọc của Công ty TNHH Nông nghiệp công nghệ cao Hồ Gươm - Sông Âm.

Những năm gần đây, cùng với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Thanh Hóa đã tập trung phát triển các vùng sản xuất tập trung, ứng dụng khoa học - kỹ thuật và đẩy mạnh cấp mã số vùng trồng cho các sản phẩm chủ lực. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng nông sản.

Tại xã Nguyệt Ấn, Công ty TNHH Nông nghiệp công nghệ cao Hồ Gươm - Sông Âm là một trong những đơn vị tiên phong trong xây dựng và duy trì mã số vùng trồng. Doanh nghiệp đã phát triển nhiều vùng cây ăn quả ứng dụng công nghệ cao, trong đó thanh long và vải ngọc đã được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Huệ, Giám đốc Công ty TNHH Nông nghiệp công nghệ cao Hồ Gươm - Sông Âm, cho biết: “Để được cấp mã số vùng trồng, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về quy trình sản xuất an toàn, ghi chép nhật ký đồng ruộng, quản lý sinh vật gây hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Quan trọng hơn, các tiêu chí này phải được duy trì thường xuyên trong suốt quá trình sản xuất”.

Nhờ thực hiện nghiêm các quy định, nhiều sản phẩm trái cây của doanh nghiệp đã có mặt tại các thị trường khó tính như Nhật Bản, Anh và một số nước châu Âu. Việc được cấp mã số vùng trồng không chỉ mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn nâng cao uy tín thương hiệu và giá trị sản phẩm.

Thực tế cho thấy, mã số vùng trồng không đơn thuần là một dãy ký hiệu hành chính mà là công cụ quản lý hiệu quả quá trình sản xuất nông nghiệp. Thông qua mã số vùng trồng, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm, kiểm soát quy trình sản xuất và chất lượng nông sản. Đây cũng là cơ sở để từng bước hình thành nền sản xuất minh bạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.

Đối với người sản xuất, việc xây dựng mã số vùng trồng đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác, ghi chép nhật ký sản xuất và sử dụng vật tư nông nghiệp theo quy định. Qua đó góp phần thay đổi tư duy từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo tiêu chuẩn.

Anh Trần Đình Vũ, chủ trang trại cây ăn quả tại xã Xuân Hòa, cho biết: “Khi được cấp mã số vùng trồng, chúng tôi phải thực hiện đúng quy trình kỹ thuật từ chăm sóc đến sử dụng vật tư nông nghiệp. Nhờ vậy chất lượng sản phẩm đồng đều hơn, được khách hàng tin tưởng và đầu ra thuận lợi hơn”.

Để hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp và người dân xây dựng vùng sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường, ngành nông nghiệp Thanh Hóa đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật. Từ năm 2023 đến nay, toàn tỉnh đã cấp phát khoảng 17.000 tờ rơi hướng dẫn quy trình thiết lập mã số vùng trồng, phát hành 400 cuốn sổ tay hướng dẫn và tổ chức 51 lớp tập huấn cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh nông sản. Cùng với đó, các cơ quan chuyên môn thường xuyên kiểm tra việc duy trì các điều kiện tại những vùng trồng đã được cấp mã số; lấy mẫu nông sản, đất và nước để giám sát an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các yêu cầu kiểm dịch. Nhiều địa phương cũng chủ động rà soát, xây dựng hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng cho các vùng sản xuất có tiềm năng.

Đến nay, Thanh Hóa đã được cấp 193 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 1.713ha cho các loại cây trồng chủ lực như thanh long, dứa, bưởi, nhãn, vải và rau màu. Kết quả này góp phần nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, so với tiềm năng và lợi thế của địa phương, số lượng mã số vùng trồng hiện nay vẫn còn khiêm tốn. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và người dân chưa chặt chẽ; trong khi một bộ phận người sản xuất chưa thực sự quan tâm đến việc duy trì các tiêu chí sau khi được cấp mã số.

Trong bối cảnh các thị trường ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, việc duy trì mã số vùng trồng trở thành yêu cầu bắt buộc. Nếu không tuân thủ đầy đủ các quy định, mã số vùng trồng có thể bị cảnh báo hoặc thu hồi, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm. Từ ngày 24/1/2026, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng được thực hiện theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Điểm mới đáng chú ý là chuyển từ tư duy “cấp mã số” sang “quản lý và duy trì mã số vùng trồng”, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất.

Theo ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa: “Ngành nông nghiệp đang tiếp tục phát triển các vùng sản xuất tập trung, nâng cao hiệu quả quản lý mã số vùng trồng và ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Không chỉ là điều kiện để tiếp cận thị trường, mã số vùng trồng còn là công cụ quan trọng giúp minh bạch hóa sản xuất, kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị nông sản. Đây cũng là nền tảng để nông nghiệp Thanh Hóa phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập”.

Bài và ảnh: Thanh Tâm

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/minh-bach-quan-ly-nong-san-nbsp-bang-ma-so-vung-trong-294291.htm