Mở đường cho nông nghiệp hữu cơ
Những năm qua, nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, vươn lên vị trí thứ năm trong khu vực châu Á về diện tích canh tác. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu mở rộng quy mô và nâng cao giá trị sản phẩm, ngành nông nghiệp cần tập trung hơn nữa việc giải quyết những khó khăn, thách thức.

Chăm sóc cải xoăn hữu cơ trong nhà màng tại trang trại Hoa Viên, xã Yên Xuân, Hà Nội. (Ảnh: HOA VIÊN)
Nhiều kết quả tích cực
Với quy mô lên đến 20ha và đạt chứng nhận hữu cơ theo các tiêu chuẩn khắt khe của Việt Nam, Mỹ, châu Âu (EU) và Nhật Bản, trang trại Hoa Viên (xã Yên Xuân) hiện là cơ sở sản xuất rau hữu cơ lớn nhất thành phố Hà Nội. Chủ trang trại Hoa Viên Trương Thị Kim Hoa cho biết, cơ sở bắt đầu canh tác hữu cơ từ năm 2013, chủ yếu là trồng các giống rau theo mùa, rau bản địa và cây dược liệu. Với thương hiệu “Rau hữu cơ Đại Ngàn”, mỗi tháng trang trại cung cấp cho thị trường từ 30-40 tấn nông sản các loại. Đối tác của Hoa Viên chủ yếu là các chuỗi cửa hàng phân phối thực phẩm sạch, thực phẩm cao cấp.
Ngoài thị trường Hà Nội, sản phẩm của trang trại còn có mặt ở rất nhiều tỉnh, thành khác như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Lào Cai, Hưng Yên… Nhờ đầu ra và giá bán ổn định, Hoa Viên đang tạo việc làm thường xuyên, bảo đảm thu nhập ổn định cho khoảng 100 lao động địa phương.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian, công sức và tính kỷ luật. Theo chị Hoa, quy trình sản xuất tại trang trại phải tuân thủ nghiêm ngặt các bộ tiêu chí sinh thái, từ nguồn nước, khâu cải tạo đất, lựa chọn hạt giống, phân bón hữu cơ đến các biện pháp phòng, trừ sâu bệnh. Bên cạnh đó, trang trại còn thường xuyên gửi mẫu kiểm định nông sản đến các phòng thí nghiệm quốc tế để đánh giá hàng nghìn chỉ tiêu an toàn thực phẩm.
Thời gian qua, ở các địa phương trên cả nước ngày càng có nhiều những mô hình canh tác hữu cơ chuyên nghiệp, bài bản như Hoa Viên. Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam Hà Phúc Mịch cho biết, năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2018/ NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ. Điều này đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cũng như các chính sách hỗ trợ tài chính cụ thể, tiếp thêm động lực cho người sản xuất.
Trước thời điểm Nghị định ban hành, cả nước chỉ có vài địa phương triển khai thì đến nay, mô hình canh tác hữu cơ đã “phủ sóng” rộng khắp toàn quốc. Nhiều tỉnh, thành phố còn chủ động xây dựng đề án, quy hoạch bài bản, qua đó thu hút mạnh mẽ sự quan tâm và nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp. Nhờ những bước tiến đồng bộ này, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ của nước ta đã tăng gấp 1,5-2 lần so với năm 2017.
Theo Báo cáo thường niên do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ (FiBL) phối hợp tổ chức IFOAM quốc tế công bố năm 2026, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam tính đến cuối năm 2024 đạt 125.045ha, đứng thứ 5 trong tốp 10 quốc gia châu Á có diện tích sản xuất hữu cơ lớn nhất, sau Ấn Độ, Trung Quốc, Kazakhstan và Philippines.
Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
Mặc dù đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận song việc phát triển nông nghiệp hữu cơ ở nước ta hiện vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Cụ thể, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún; diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam còn khá khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 1,07% tổng số diện tích đất nông nghiệp cả nước. Nguồn nhân lực am hiểu về sản xuất nông nghiệp hữu cơ chưa đáp ứng được nhu cầu; còn thiếu các chương trình trọng điểm và đầu tư nguồn lực tương xứng để tạo đột phá cho nông nghiệp hữu cơ. Bên cạnh đó, vật tư đầu vào đạt chuẩn còn hạn chế, chi phí sản xuất cao; liên kết chuỗi, đầu ra chưa ổn định…
Chị Trương Thị Kim Hoa cho biết, nguồn cây giống và vật tư nông nghiệp đạt chuẩn hữu cơ trong nước hiện còn rất hạn chế cho nên người trồng chủ yếu phải nhập khẩu với giá thành đắt đỏ. Không chỉ đối mặt với khoản đầu tư ban đầu lớn, các trang trại còn phải gánh thêm chi phí tái chứng nhận hữu cơ không hề nhỏ hằng năm. Đáng nói, dù Nhà nước đã có nhiều chủ trương khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, nhất là rau, nhưng các nhà vườn vẫn rất khó tiếp cận, thụ hưởng chính sách, nhất là nguồn vốn vay ưu đãi.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu đến năm 2030, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5-3% tổng số diện tích nhóm đất nông nghiệp; trong đó, diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt hơn 2% tổng số diện tích đất trồng trọt. Giá trị sản phẩm hơn 1ha đất trồng trọt hữu cơ sẽ cao gấp 1,5-1,8 lần so với sản xuất phi hữu cơ.
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam Hà Phúc Mịch kiến nghị, cơ quan chức năng cần khẩn trương rà soát, đánh giá toàn diện quá trình phát triển nông nghiệp hữu cơ thời gian qua, từ đó có chiến lược phát triển phù hợp, sát thực tế. Cùng với đó, cần chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý cũng như người trực tiếp sản xuất, kinh doanh; ban hành các chính sách hỗ trợ thiết thực và thúc đẩy phát triển nguồn vật tư nông nghiệp đạt chuẩn. Đáng chú ý, quy trình cấp giấy chứng nhận và danh sách các đơn vị chứng nhận (cả trong nước và quốc tế) cần được công khai, cập nhật hằng tháng, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng nắm bắt, tiếp cận thông tin.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/mo-duong-cho-nong-nghiep-huu-co-post993607.html

