Mở những con đường mới cho di sản Việt Nam
Tối qua 1.11, tại di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Chương trình Nghệ thuật số “Tinh hoa đạo học” và Lễ ra mắt Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam (CMAP). Từ không gian biểu tượng của truyền thống hiếu học, một thông điệp được gợi mở.

Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Bùi Hoài Sơn và các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt nền tằng bản đồ số văn hoá Việt Nam. Ảnh: Trần Huấn
Đó là chuyển đổi số không chỉ giúp lưu giữ di sản, mà còn mở ra những cách thức mới để văn hóa đến với người dân, lan tỏa giá trị và trở thành nguồn lực phát triển đất nước. Giữa không gian cổ kính của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, câu chuyện về một bản đồ số văn hóa mang đến một liên tưởng thật đẹp. Ngày xưa, cha ông khắc tên những người đỗ đạt lên bia đá để tôn vinh trí tuệ, khuyến khích hiền tài và trao gửi niềm tin vào tương lai. Ngày nay, chúng ta đang tìm cách lưu giữ, kết nối và lan tỏa những giá trị văn hóa ấy bằng dữ liệu, bằng công nghệ và bằng sức sáng tạo của con người Việt Nam. Hai cách làm thuộc hai thời đại khác nhau, nhưng gặp nhau ở một khát vọng: Những giá trị tốt đẹp phải được gìn giữ và tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.
Việc lựa chọn Văn Miếu - Quốc Tử Giám để giới thiệu CMAP trong năm kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám, vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài một sự kiện công nghệ. Đó là cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và tương lai, giữa đạo học và tri thức số, giữa ký ức văn hóa với nhu cầu sáng tạo của xã hội hôm nay. Điều cần nhìn thấy không chỉ là sự xuất hiện của một nền tảng mới, mà là cơ hội để thay đổi cách chúng ta hiểu, quản lý và phát huy giá trị di sản.
Một tấm bản đồ, nhiều cánh cửa đến với văn hóa
Mỗi vùng đất Việt Nam đều có những câu chuyện đáng được kể: Một ngôi đình lưu giữ ký ức cộng đồng, một lễ hội gửi gắm ước vọng mùa màng, một làng nghề kết tinh sự khéo léo của nhiều thế hệ, một bảo tàng mở cánh cửa vào lịch sử dân tộc. Nhưng lâu nay, những câu chuyện ấy thường nằm rải rác trong các hồ sơ, trang thông tin hoặc chỉ được biết đến trong phạm vi một địa phương. Khi thông tin thiếu kết nối, không ít giá trị văn hóa vẫn ở rất gần mà lại trở nên xa lạ với công chúng.
CMAP có ý nghĩa trước hết ở khả năng từng bước kết nối những điểm rời rạc ấy thành một không gian thông tin chung. Theo thông tin công bố tại lễ ra mắt, nền tảng tại địa chỉ cmap.vn hướng tới giúp người dân và du khách tra cứu di sản, bảo tàng, sự kiện văn hóa, hoạt động thể thao và những hành trình trải nghiệm trên phạm vi 34 tỉnh, thành phố.
Tính đến 22h ngày 31.10.2026, hệ thống đã công bố thông tin về 366 sự kiện trên cả nước. Những con số ban đầu ấy đáng chú ý, nhưng quan trọng hơn là triển vọng hình thành một cách tiếp cận thuận tiện, thống nhất và gần gũi hơn với đời sống. Một bản đồ thông thường cho chúng ta biết phải đi đâu. Một bản đồ văn hóa tốt còn giúp trả lời: Đến đó để hiểu điều gì, gặp gỡ những giá trị nào, có thể tham gia, trải nghiệm và đóng góp ra sao. Khi một gia đình tìm được hoạt động giáo dục di sản cho con, một người trẻ khám phá nghệ thuật truyền thống ngay tại nơi mình sinh sống, hay một du khách kết nối chuyến đi với làng nghề, ẩm thực và chương trình biểu diễn địa phương, dữ liệu đã bắt đầu chuyển hóa thành trải nghiệm văn hóa.
Từ góc độ quản lý, ý nghĩa của CMAP cũng không dừng ở quảng bá địa điểm. Khi được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên, dữ liệu có thể giúp nhận diện nơi nào đang có hoạt động văn hóa phong phú, nơi nào còn thiếu cơ hội tiếp cận, loại hình di sản nào cần ưu tiên bảo vệ, những nguồn lực nào có thể kết nối để tạo thành sản phẩm mới. Quản lý văn hóa, vì thế, có thêm điều kiện chuyển từ tư duy lưu trữ thông tin sang tư duy kiến tạo cơ hội phát triển. Và ở trung tâm của sự chuyển đổi ấy phải luôn là người dân - chủ thể sáng tạo, gìn giữ và thụ hưởng văn hóa.
Để di sản không chỉ được lưu giữ mà còn tiếp tục sống
Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc cách con người gặp gỡ di sản. Một hiện vật có thể được giới thiệu với nhiều lớp thông tin; một không gian kiến trúc có thể được tái hiện để phục vụ giáo dục; một loại hình nghệ thuật dân gian có thể tiếp cận công chúng trẻ thông qua hình thức kể chuyện, hình ảnh và tương tác mới. Công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận, nhất là với những người ở xa di tích hoặc chưa có điều kiện trực tiếp trải nghiệm. Nhưng giá trị lớn nhất của nó không nằm ở sự mới lạ của kỹ thuật, mà ở khả năng khơi dậy sự hiểu biết và tình yêu đối với văn hóa.

Chương trình nghệ thuật "Tinh hoa đạo học" kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống và công nghệ 3D mapping hiện đại. Ảnh: Trần Huấn
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một ví dụ gần gũi. Những trải nghiệm như tour đêm “Tinh hoa đạo học” cho thấy khi công nghệ trình diễn được đặt trên nền tảng nghiên cứu lịch sử, giáo dục di sản và tổ chức nội dung nghiêm túc, một không gian quen thuộc có thể mở ra những cách cảm nhận mới. Người xem không chỉ thưởng thức hiệu ứng thị giác; điều quan trọng là họ có cơ hội hiểu thêm về tinh thần trọng đạo học, tôn sư trọng đạo và truyền thống hiếu học của dân tộc. Công nghệ khi ấy không đứng trước di sản để phô diễn, mà đứng bên cạnh di sản để giúp di sản cất tiếng nói.
Tuy nhiên, càng nhiều công nghệ, chúng ta càng phải giữ vững một nguyên tắc: Không đánh đổi tính chân thực của di sản lấy sự hào nhoáng của trải nghiệm. Một mô hình tái dựng cần được phân biệt rõ với hiện vật gốc; một câu chuyện lịch sử được kể lại bằng trí tuệ nhân tạo vẫn phải dựa trên nguồn tư liệu đáng tin cậy; một sản phẩm sáng tạo từ di sản cần tôn trọng cộng đồng nắm giữ di sản và quyền lợi của những người làm nghề. Số hóa không phải là sao chép vô hạn hay trang trí thêm lớp vỏ kỹ thuật, mà là một phương pháp gìn giữ có trách nhiệm.
Cũng cần nhớ rằng di sản không chỉ hiện diện trong đình, đền, bảo tàng hay trên màn hình. Di sản còn sống trong bàn tay người thợ, lời hát của nghệ nhân, ký ức của người cao tuổi và sự tham gia của cộng đồng. Bởi vậy, chuyển đổi số phải gắn với trao truyền tri thức, giáo dục thế hệ trẻ, bảo vệ quyền văn hóa và sinh kế của người thực hành di sản. Một nền tảng chỉ thực sự thành công khi khiến con người muốn bước ra khỏi màn hình, đến với không gian văn hóa thật, gặp những con người thật và tiếp tục những thực hành văn hóa trong đời sống hằng ngày.
Từ góc độ quản lý, ý nghĩa của CMAP cũng không dừng ở quảng bá địa điểm. Khi được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên, dữ liệu có thể giúp nhận diện nơi nào đang có hoạt động văn hóa phong phú, nơi nào còn thiếu cơ hội tiếp cận, loại hình di sản nào cần ưu tiên bảo vệ, những nguồn lực nào có thể kết nối để tạo thành sản phẩm mới. Quản lý văn hóa, vì thế, có thêm điều kiện chuyển từ tư duy lưu trữ thông tin sang tư duy kiến tạo cơ hội phát triển.
Làm chủ công nghệ để mở rộng sức mạnh văn hóa Việt Nam
Từ CMAP, có thể nhìn thấy một vấn đề rộng lớn hơn: Năng lực làm chủ công nghệ của người Việt Nam trong phát triển văn hóa. Điều đáng quý không chỉ là chúng ta biết sử dụng những công cụ hiện đại, mà là các chuyên gia, kỹ sư, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và những người làm di sản có thể cùng nhau tạo nên sản phẩm phục vụ nhu cầu của chính xã hội mình. Khi hiểu văn hóa Việt Nam bằng chiều sâu tri thức và làm chủ công nghệ bằng năng lực sáng tạo, chúng ta có điều kiện kể câu chuyện Việt Nam bằng tiếng nói, góc nhìn và bản lĩnh của mình.
Tinh thần ấy phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cũng như Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết 80 đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng dữ liệu văn hóa, nền tảng số dùng chung, chuẩn hóa và số hóa di sản, đồng thời khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Điều này đòi hỏi chúng ta nhìn chuyển đổi số văn hóa không như một dự án thiết bị, mà như một nhiệm vụ xây dựng năng lực quốc gia dài hạn.
Muốn vậy, trước hết phải có dữ liệu văn hóa đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được cập nhật và có khả năng liên thông. Một bản đồ đẹp đến đâu cũng khó phát huy tác dụng nếu thông tin thiếu chính xác, nhanh chóng lạc hậu hoặc mỗi địa phương vận hành theo một chuẩn khác nhau. Cùng với dữ liệu là con người, cần đội ngũ hiểu công nghệ, am hiểu lịch sử, văn hóa, có khả năng thiết kế trải nghiệm và biết làm việc với cộng đồng. Đặc biệt, phải có cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức sáng tạo và người nắm giữ di sản; đi đôi với bảo vệ sở hữu trí tuệ, dữ liệu cá nhân và chủ quyền văn hóa số.
Nhưng cuối cùng, thước đo của một nền tảng văn hóa số không nên chỉ là số lượng điểm được gắn trên bản đồ hay lượt truy cập. Thước đo quan trọng hơn là có bao nhiêu người dân được tiếp cận văn hóa dễ dàng hơn; bao nhiêu di sản được hiểu đúng và bảo vệ tốt hơn; bao nhiêu nghệ nhân, địa phương và doanh nghiệp có thêm cơ hội tạo dựng giá trị mới. Từ một dữ liệu được kết nối đúng cách, có thể hình thành một hành trình du lịch di sản; từ một câu chuyện được kể hấp dẫn, có thể khơi dậy sự quan tâm của thế hệ trẻ; từ sự cộng tác giữa công nghệ và văn hóa, có thể ra đời những sản phẩm công nghiệp văn hóa mang bản sắc Việt Nam.
Sự kiện ra mắt CMAP diễn ra trong không khí hướng tới Ngày Văn hóa Việt Nam 24.11 lần đầu tiên. Đây là một sự gặp gỡ có ý nghĩa: Ngày dành cho văn hóa nhắc chúng ta về quyền và trách nhiệm của mỗi người đối với văn hóa; còn công nghệ mở thêm những phương thức để quyền và trách nhiệm ấy được thực hiện trong cuộc sống. Không phải ai cũng có điều kiện đến mọi bảo tàng, dự mọi lễ hội, khám phá mọi miền đất nước. Nhưng mỗi người đều xứng đáng có cơ hội tìm hiểu, tham gia và tự hào về di sản của dân tộc.
Từ những tấm bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám đến bản đồ số văn hóa của ngày hôm nay là một hành trình dài của tri thức, ký ức và khát vọng phát triển. Đích đến không phải là đưa tất cả di sản lên màn hình, mà là đưa những giá trị tốt đẹp của di sản vào sâu hơn trong đời sống con người. Khi công nghệ thực sự phục vụ văn hóa và khi con người tiếp tục là trung tâm của sáng tạo, di sản không chỉ được giữ lại cho ngày mai, mà còn có thêm sức sống để cùng đất nước bước tới tương lai.
Càng nhiều công nghệ, chúng ta càng phải giữ vững một nguyên tắc: Không đánh đổi tính chân thực của di sản lấy sự hào nhoáng của trải nghiệm. Một mô hình tái dựng cần được phân biệt rõ với hiện vật gốc; một câu chuyện lịch sử được kể lại bằng trí tuệ nhân tạo vẫn phải dựa trên nguồn tư liệu đáng tin cậy; một sản phẩm sáng tạo từ di sản cần tôn trọng cộng đồng nắm giữ di sản và quyền lợi của những người làm nghề. Số hóa không phải là sao chép vô hạn hay trang trí thêm lớp vỏ kỹ thuật, mà là một phương pháp gìn giữ có trách nhiệm.
Nguồn Văn hóa: https://baovanhoa.vn/mo-nhung-con-duong-moi-cho-di-san-viet-nam.html
