Mở rộng không gian phát triển, xử lý các điểm nghẽn trong Quy hoạch Thủ đô
Thành phố Hà Nội đang nghiên cứu xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, gắn với việc ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TW và sửa đổi Luật Thủ đô năm 2024. Quy hoạch được tiếp cận theo tư duy mới, hợp nhất quy hoạch không gian, phát triển đô thị và thể chế quản trị.
Trọng tâm là tháo gỡ các điểm nghẽn lớn về hạ tầng, môi trường, trật tự đô thị và không gian phát triển. Song song với đó là hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội cho Thủ đô. Qua đó tạo nền tảng chính trị – pháp lý cho phát triển nhanh, bền vững và tăng trưởng hai con số trong dài hạn.
Báo cáo do Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn trình bày tại cuộc làm việc của Tổng Bí thư Tô Lâm với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vào sáng nay (10/1). Đây là những nhiệm vụ mang tính nền tảng, chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với không gian phát triển, mô hình tăng trưởng và thể chế quản trị của Thủ đô trong dài hạn, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng trong kỷ nguyên mới.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô với cách tiếp cận mới, tầm nhìn dài hạn
Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị tại Văn bản số 19076-CV/VPTW ngày 21/11/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng, Nghị quyết số 258/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội và kết luận của Thường trực Chính phủ tại Văn bản số 709/TB-VPCP ngày 19/12/2025 về ý tưởng, định hướng lớn Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội, thành phố Hà Nội đã nghiên cứu, xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, đồng thời đề xuất xây dựng Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị và sửa đổi Luật Thủ đô năm 2024.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm được xây dựng trên cơ sở hợp nhất Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô, qua đó khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy hoạch trước đây. Cách tiếp cận mới cho phép giải quyết đồng thời các vấn đề không gian vùng, không gian đô thị và các điểm nghẽn phát triển đã tồn tại trong thời gian dài.
Hiện nay, Thủ đô Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với vùng trung du và miền núi phía Bắc. Trước đây, quá trình quy hoạch và phát triển Thủ đô chủ yếu gắn với Vùng Thủ đô, tiếp giáp với 10 tỉnh, thành. Sau sáp nhập, Hà Nội hiện tiếp giáp với 5 tỉnh và được xác định là hạt nhân vùng. Trên cơ sở đó, Quy hoạch tổng thể Thủ đô được nghiên cứu theo hướng mở rộng không gian tương tác, liên kết phát triển với các vùng đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc cũng như vùng đô thị Hà Nội.
Bên cạnh định hướng không gian vùng, Quy hoạch tổng thể Thủ đô đặt trọng tâm xử lý các điểm nghẽn lớn đang cản trở phát triển, bao gồm hạ tầng giao thông, ngập úng, trật tự đô thị và ô nhiễm môi trường.
Về chống ngập úng, quy hoạch xác định xây dựng hệ thống công trình ngầm, giao thông ngầm đồng bộ với mạng lưới giao thông vành đai, hướng tâm và xuyên tâm, kết hợp hệ thống thu gom nước ngầm, bể ngầm chống ngập và các trạm bơm công suất lớn. Không gian ngầm đa năng được quy hoạch theo mô hình TOD, vừa phục vụ giao thông, vừa tích hợp các chức năng đô thị.
Cùng với đó, quy hoạch bổ sung các hồ điều hòa nhằm trữ nước, thoát nước, chống úng ngập tại các khu vực có cốt nền thấp; xây dựng thêm các trạm bơm lớn; mở rộng một số đoạn, tuyến sông thuộc Vành đai xanh, hành lang xanh, bãi sông để tăng khả năng thoát nước tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đối với giao thông, quy hoạch bổ sung các tuyến kết nối giao thông đường bộ và đường sắt liên vùng với các tỉnh xung quanh Hà Nội; phối hợp triển khai các dự án trọng điểm quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn.
Quy hoạch định hướng phát triển hệ thống đường sắt đô thị theo hướng tăng cường các trục liên kết với các đô thị và tỉnh, thành lân cận; nghiên cứu đường sắt đô thị ngầm từ Vành đai 3 trở vào nội đô; phát triển hệ thống TOD, bãi đỗ xe ngầm và không gian thương mại – dịch vụ nhằm tối ưu hóa sử dụng đất xung quanh các nhà ga.
Bên cạnh đó, quy hoạch tăng cường hệ thống giao thông liên khu vực theo cấu trúc mạng ô bàn cờ, kết nối các khu đô thị mới với đô thị cũ; kết hợp cải tạo, tái thiết các ô phố cũ xuống cấp, khu ổ chuột, qua đó giải phóng các điểm ùn tắc giao thông cục bộ trong nội đô.
Quy hoạch cũng bổ sung các cầu lớn bắc qua sông Hồng để mở rộng không gian phát triển đô thị; cải tạo, mở rộng các tuyến đường hiện hữu và các trục giao thông hướng tâm theo 9 trục động lực. Đồng thời, rà soát quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; nghiên cứu đưa các sân bay Gia Lâm, Hòa Lạc vào khai thác lưỡng dụng và dự trữ quỹ đất tại khu vực phía Nam (Ứng Hòa) để xây dựng sân bay thứ hai của Vùng Thủ đô.
Quy hoạch cũng nêu rõ các giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường gắn với tái cấu trúc không gian xanh. Về môi trường, quy hoạch tập trung rà soát tổng thể quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô, đề xuất điều chỉnh địa điểm, quy mô và công nghệ xử lý; nghiên cứu quy hoạch đồng bộ dây chuyền xử lý rác thải, nước thải, phân loại rác tại nguồn; bổ sung các khu xử lý nước thải phù hợp với cấu trúc phát triển đô thị mới.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Dương Đức Tuấn trình bày Quy hoạch tổng thể Thủ đô với cách tiếp cận mới, tầm nhìn dài hạn.
Đối với Hành lang xanh và các vành đai xanh sông Đáy, Tích, Nhuệ, Tô Lịch…, Quy hoạch đề ra các giải pháp khơi thông dòng chảy, tuần hoàn làm sạch nước, xử lý triệt để tình trạng xả thải trực tiếp bằng hệ thống đường ống thu gom kết hợp đường, đê; bổ sung xây dựng các hồ điều hòa lớn, công viên rừng, không gian thể thao và sinh thái dọc các con sông, hành lang xanh và nêm xanh.
Tái cấu trúc đô thị – cuộc cách mạng về không gian và giá trị
Một nội dung trọng tâm của báo cáo nêu rõ, Quy hoạch tổng thể Thủ đô là tái cấu trúc đô thị nhằm giải quyết tận gốc các điểm nghẽn về trật tự đô thị. Mục tiêu đặt ra là tạo một cuộc cách mạng về kiến trúc cảnh quan, nhà ở, di sản và bảo tồn; chuyển từ tư duy “bảo tồn – cải tạo” sang tư duy “tái thiết giá trị”; đồng thời giải phóng nguồn lực đất đai và kiến tạo giá trị mới cho phát triển.
Phạm vi tái cấu trúc tập trung từ Vành đai 3 trở vào, ưu tiên khu vực trong Vành đai 1 và Vành đai 2. Trong đó, các khu vực có giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc đặc trưng như Trung tâm Chính trị – Hành chính Ba Đình, hồ Gươm và phụ cận, khu phố cổ, phố cũ, hồ Tây, hai bên sông Hồng và các khu di tích, cơ sở tôn giáo, khu vực quốc phòng – an ninh trọng yếu sẽ được tái cấu trúc gắn với bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị.
Các khu vực còn lại không đáp ứng yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan, hạ tầng và chất lượng công trình sẽ được tái cấu trúc toàn diện. Mô hình tái cấu trúc đô thị được xây dựng trên nguyên tắc bảo tồn hài hòa với phát triển, giữ gìn “hồn cốt” Thăng Long – Hà Nội, đồng thời kiến tạo cấu trúc đô thị mới theo mô hình “đa tầng – đa lớp”.
Giải pháp trọng tâm là tái cấu trúc hạ tầng với hệ thống giao thông đa tầng; phát triển đồng bộ mạng lưới đường sắt đô thị lấy các nhà ga metro làm hạt nhân tái thiết; đầu tư mạnh hệ thống hạ tầng ngầm, trong đó đề xuất tỷ lệ ngầm hóa khu vực nội đô trên 40% diện tích đất xây dựng đô thị.
Song song với đó là tái cấu trúc sử dụng đất theo mô hình “Nén – Xanh”, giảm mật độ xây dựng, tăng tầng cao, phát triển các tổ hợp cao tầng 40–50 tầng ở khu vực trung tâm để giải phóng quỹ đất dành cho công viên, cây xanh, mặt nước và hạ tầng xã hội. Quỹ đất trung tâm sau tái thiết được ưu tiên cho các chức năng có giá trị kinh tế cao như trung tâm tài chính, khu văn phòng cao cấp, thương mại quốc tế, tạo nguồn thu cho ngân sách và động lực tăng trưởng.
Về dân cư, quy hoạch xác định thực hiện giãn dân nội đô; bố trí tái định cư tại chỗ kết hợp tái định cư tại các khu đô thị mới đồng bộ, hiện đại ở Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc, bảo đảm người dân có điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ.
Huy động 9,6 triệu tỷ đồng triển khai các dự án chiến lược
Để hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội với tầm nhìn 100 năm, đồng thời đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trước mắt và phát triển bền vững lâu dài, thành phố xác định việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực là yếu tố then chốt. Theo đó, quy hoạch được xây dựng trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa định hướng không gian phát triển với phương án cân đối nguồn lực, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.
Thành phố chủ trương cân đối, phân bổ đầu tư hợp lý theo ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất, phát triển các khu đô thị lớn, đồng bộ về hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật, hình thành các cực tăng trưởng mới, góp phần giãn áp lực cho khu vực nội đô lịch sử. Thứ hai, khẩn trương triển khai đầu tư hệ thống hạ tầng khung theo định hướng Quy hoạch tổng thể nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn lớn, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, chống ngập, môi trường và kết nối liên vùng. Thứ ba, khoanh vùng các khu vực tái thiết đô thị, xây dựng kế hoạch triển khai và cơ chế kiểm soát đầu tư xây dựng phù hợp, hạn chế tình trạng sử dụng đất không hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực đầu tư của xã hội.
Việc triển khai Quy hoạch tổng thể Thủ đô được xác định thực hiện theo lộ trình 10 năm, gắn với các chương trình, dự án đầu tư cụ thể. Trong giai đoạn 2026–2030, thành phố dự kiến tổng vốn đầu tư khoảng 9,6 triệu tỷ đồng để thực hiện các dự án chiến lược trên các lĩnh vực then chốt. Nguồn lực này được tập trung cho các nhóm nhiệm vụ lớn gồm: đầu tư hạ tầng khung; phát triển các đô thị mới; tái cấu trúc đô thị; phát triển công nghiệp; y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ; văn hóa – thể thao – du lịch.
Trong đó, đầu tư hạ tầng được xác định là lĩnh vực đi trước một bước, đóng vai trò dẫn dắt và tạo nền tảng cho các hoạt động phát triển khác. Thành phố tập trung nguồn lực cho hệ thống giao thông đa phương thức, bao gồm giao thông đường bộ, đường sắt đô thị, giao thông ngầm và các công trình kết nối liên vùng. Cùng với đó là đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu như cấp, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, năng lượng và hạ tầng số, bảo đảm đồng bộ với cấu trúc đô thị mới theo mô hình đa tầng – đa lớp.
Đối với các khu vực tái cấu trúc đô thị, đặc biệt là khu vực từ Vành đai 3 trở vào nội đô, thành phố xác định phương án tài chính song hành với quy hoạch không gian ngay từ khâu lập quy hoạch. Việc tính toán suất đầu tư, giá trị đất đai gia tăng sau tái thiết được thực hiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thu hút được các nhà đầu tư chiến lược. Dự kiến tỷ lệ tái thiết khu vực nội đô khoảng 70% diện tích đất xây dựng đô thị, qua đó giải phóng nguồn lực đất đai, tạo dư địa cho phát triển các công trình có giá trị kinh tế cao, đồng thời bổ sung không gian công cộng, cây xanh, mặt nước và hạ tầng xã hội.
Quỹ đất tại khu vực trung tâm và các vị trí đắc địa được ưu tiên phát triển các trung tâm tài chính, thương mại, văn phòng cao cấp (CBD), tạo nguồn thu lớn cho ngân sách và động lực tăng trưởng dài hạn cho Thủ đô. Song song với đó, thành phố chú trọng phát triển công nghiệp văn hóa, gắn kết bảo tồn và phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch, hình thành các chuỗi sản phẩm du lịch đặc sắc, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao hình ảnh Thủ đô.
Báo cáo nêu rõ, về lộ trình tổ chức thực hiện, giai đoạn 2026–2030 được xác định là giai đoạn bản lề, tập trung hoàn thiện thể chế, triển khai các dự án hạ tầng khung, các khu đô thị mới và các khu vực tái thiết trọng điểm. Đây là giai đoạn tạo nền móng cho việc thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn của Quy hoạch tổng thể Thủ đô. Trên cơ sở kết quả đạt được trong giai đoạn này, thành phố tiếp tục điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư cho các giai đoạn tiếp theo, bảo đảm tính liên tục, đồng bộ và phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững 100 năm của Thủ đô Hà Nội.











