Mở rộng không gian ra biển, cần hành lang pháp lý thống nhất
Việt Nam có hơn 3.000 km bờ biển, trong khi quỹ đất đô thị ngày càng hạn hẹp. Theo các đại biểu Quốc hội, việc phát triển đô thị lấn biển có thể mở thêm không gian phát triển và khai thác nguồn lực biển, song cần một khuôn khổ pháp lý thống nhất, điều kiện áp dụng rõ ràng và yêu cầu chặt chẽ đối với năng lực của nhà đầu tư.
Quốc hội Khóa XVI
Luật hóa để tạo khuôn khổ áp dụng thống nhất
Ngày 22/8, thảo luận tại Quốc hội về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) cho biết, Việt Nam đã có chủ trương phát triển các khu vực lấn biển và một số địa phương đã triển khai trên thực tế. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù và hành lang pháp lý đầy đủ.
Trong bối cảnh quỹ đất tại các đô thị ngày càng hạn hẹp, nhu cầu mở rộng không gian đô thị, phát triển du lịch, sinh thái và các hoạt động kinh tế ngày càng tăng, đại biểu Phạm Văn Hòa cho rằng khai thác không gian biển để tạo thêm quỹ đất là hướng đi phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Tuy nhiên, theo đại biểu, việc hoàn thiện quy định về khu đô thị lấn biển cần được đặt trong tổng thể phát triển đô thị biển của cả nước, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và có thể áp dụng đối với các địa phương có điều kiện tương tự.

Đại biểu Phạm Văn Hòa phát biểu (ảnh QH).
Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, Việt Nam là quốc gia biển với hơn 3.000 km bờ biển. Chủ trương hướng biển, khai thác tiềm năng, lợi thế biển để tạo nguồn lực phát triển đất nước và các địa phương thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước.
Theo đại biểu, phát triển các khu đô thị lấn biển không chỉ nhằm tạo thêm quỹ đất cho đô thị mà còn góp phần mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển, khai thác hiệu quả hơn nguồn lực biển, hình thành các cực tăng trưởng mới và huy động nguồn lực lớn từ khu vực ngoài nhà nước.
Từ đó, đại biểu đề nghị khi luật hóa nội dung này, dự thảo cần hình thành một khuôn khổ pháp lý chung, ổn định và có khả năng áp dụng lâu dài, thay vì chỉ giải quyết cho một dự án hoặc một địa phương cụ thể.
“Địa phương nào có điều kiện, có dự án phù hợp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của luật thì phải có cơ sở để tiếp cận và tổ chức thực hiện”, đại biểu nhấn mạnh.

Đại biểu Dương Khắc Mai phát biểu (ảnh QH).
Về phạm vi và nguyên tắc áp dụng cơ chế đối với dự án đô thị lấn biển, đại biểu Dương Khắc Mai thống nhất với việc bổ sung Điều 18a để luật hóa cơ chế, chính sách đối với loại hình dự án này.
Theo đại biểu, dự thảo đã đặt ra các nguyên tắc liên quan đến quy hoạch, quốc phòng, an ninh, chủ quyền, tài nguyên, môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, kết nối hạ tầng và bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân. Đây là những cơ sở cần thiết để khai thác không gian biển phục vụ phát triển, đồng thời kiểm soát các tác động lâu dài của dự án.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ quy định về trường hợp áp dụng Điều 18a, nhất là nội hàm, thẩm quyền và căn cứ ra quyết định. Theo ông, cần tránh cách hiểu rằng ngoài việc đáp ứng các điều kiện theo pháp luật, dự án còn phải thực hiện thêm một thủ tục để được hưởng cơ chế.
“Khi đã luật hóa chính sách thì nguyên tắc, điều kiện áp dụng phải rõ ràng, khách quan và có khả năng áp dụng thống nhất. Dự án đáp ứng điều kiện thì được áp dụng cơ chế tương ứng; cơ quan có thẩm quyền quyết định dự án và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật”, đại biểu nêu.
Không chỉ đủ điều kiện, nhà đầu tư phải đủ sức đi đến cùng
Một nội dung khác được đại biểu Dương Khắc Mai lưu ý là điều kiện đối với nhà đầu tư chiến lược. Ông tán thành việc dự thảo đặt ra các yêu cầu bổ sung đối với nhà đầu tư thực hiện dự án đô thị lấn biển, bởi đây là loại dự án có quy mô lớn, tính chất đặc thù và thời gian triển khai dài.

Đoàn Chủ toạ điều hành phiên thảo luận (ảnh QH).
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cân nhắc quy định về tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Dự thảo quy định mức tối thiểu 15% đối với một số dự án và giảm xuống 10% đối với dự án có quy mô trên 200.000 tỷ đồng.
Theo đại biểu, với những dự án đặc biệt lớn, huy động nguồn vốn ngoài vốn chủ sở hữu là cần thiết. Song, quy mô dự án càng lớn thì yêu cầu về năng lực tài chính, khả năng huy động vốn và trách nhiệm của nhà đầu tư cũng phải tương xứng.
Vì vậy, nếu tiếp tục duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu 10% đối với dự án trên 200.000 tỷ đồng, đại biểu đề nghị không chỉ đánh giá nhà đầu tư dựa trên tỷ lệ vốn chủ sở hữu mà cần bổ sung các tiêu chí về năng lực tài chính thực tế, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự, năng lực quản trị và khả năng bảo đảm nguồn vốn theo tiến độ trong suốt vòng đời dự án.
“Mục tiêu là lựa chọn được nhà đầu tư không chỉ đủ điều kiện tại thời điểm chấp thuận mà còn có khả năng thực hiện dự án đến cùng”, đại biểu Dương Khắc Mai nhấn mạnh.


