Mở rộng thị trường nhiên liệu sinh học, chủ động nguồn cung năng lượng
Phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ giúp Việt Nam giải quyết vấn đề môi trường, mà còn giải 'bài toán' chủ động nguồn cung năng lượng.
Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương bên lề Hội nghị phổ biến lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống trong thời kỳ mới, vừa diễn ra tại Hà Nội.
- Trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu căng thẳng do chiến sự tại Trung Đông, việc đẩy nhanh tiêu thụ nhiêu liệu sinh học là giải pháp cần thiết. Ông suy nghĩ gì về vấn đề này?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Việt Nam đã phân phối xăng E5 RON92 trên toàn quốc từ năm 2018 và thí điểm phân phối xăng E10 RON95 từ ngày 1/8/2025. Theo Thông tư 50/2025/TT-BCT ngày 7/11/2025 quy định lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống: Từ ngày 1/6/2026, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phải phối trộn ethanol để trở thành xăng E10, sử dụng cho động cơ xăng trên phạm vi toàn quốc; xăng E5 RON92 tiếp tục được phối trộn, sản xuất và sử dụng đến hết ngày 31/12/2030, nhằm bảo đảm nguồn cung và sự thích ứng của thị trường.

Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam phát biểu tại Hội nghị phổ biến lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống trong thời kỳ mới
Trong bối cảnh hiện nay, phát triển nhiên liệu sinh học được coi là giải pháp then chốt giúp giải “bài toán” chủ động năng lượng, tránh phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch chủ yếu ở khu vực Trung Đông.
Xăng sinh học là loại nhiên liệu được tạo ra bằng cách pha trộn xăng khoáng truyền thống với ethanol - một loại cồn sinh học được sản xuất từ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật như mía, sắn, ngô hoặc lúa mì. Ethanol được tạo ra thông qua quá trình lên men đường hoặc tinh bột có trong thực vật, sau đó được chưng cất và tinh chế để sử dụng làm nhiên liệu. Khi pha ethanol vào xăng theo tỷ lệ nhất định sẽ tạo thành xăng sinh học.
Trên thị trường hiện nay có nhiều loại xăng sinh học khác nhau, tùy thuộc vào tỷ lệ ethanol được pha trộn. Chẳng hạn, xăng E5 chứa khoảng 5% ethanol và 95% xăng khoáng, xăng E10 có 10% ethanol, còn E85 có tới 85% ethanol. Tại Việt Nam, loại xăng sinh học phổ biến nhất hiện nay là E5 RON92, được triển khai rộng rãi trên toàn quốc từ năm 2018 nhằm thay thế xăng RON92 trước đây.
Trong khi đó, 60% ethanol toàn cầu đến từ Mỹ và Brazil, nên không bị ảnh hưởng bởi những tuyến vận tải đang bị khủng hoảng như tại Trung Đông. Chưa kể, Việt Nam là quốc gia có thặng dư thương mại lớn thứ ba với Mỹ. Vì vậy, nếu chúng ta chuẩn bị từ sớm, kịp thời việc nhập khẩu ethanol từ Mỹ sẽ đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu cho quá trình phối trộn. Như vậy, Việt Nam có thể đẩy nhanh việc thực hiện lộ trình đặt ra và cơ bản không chịu ảnh hưởng và thách thức từ tình hình Trung Đông hiện nay.
Hơn nữa, nếu như giá xăng dầu tăng mạnh, giá ethanol (E100) không có nhiều biến động, giúp kìm hãm đà tăng mạnh của giá xăng dầu. Nói cách khác, các phụ phẩm sản xuất ethanol mặc dù có biến động song không cùng nhịp với biến động của giá xăng dầu. Ví dụ, như thời điểm hiện tại, giá dầu thô và xăng MOGAS83 đã tăng khoảng 50% nhưng giá ethanol mới tăng 4%, do đó ethanol đang là “cứu cánh” cho vấn đề giá xăng dầu.

Hội nghị phổ biến lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống trong thời kỳ mới
Điều quan trọng hơn, hành lang vận chuyển ethanol sẽ không chịu ảnh hưởng bởi xung đột Trung Đông, vì vậy giải quyết được công tác đảm bảo nguồn cung cho lĩnh vực xăng dầu nói chung và lĩnh vực ethanol nói riêng - đây là vấn đề chúng ta cần phải hoạch định chiến lược.
- Thực hiện lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống sẽ giúp tăng thêm nguồn cung xăng dầu khi nhiên liệu sinh học chiếm tỷ lệ 10%. Điều này có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Hiện, nguồn cung xăng dầu đang phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Trong đó, Việt Nam nhập khẩu khoảng 32% các sản phẩm thành phẩm xăng dầu và chủ động được khoảng 68%. Ngay cả các nhà máy lọc dầu cũng nhập khẩu nguyên liệu dầu thô cho sản xuất, chế biến. Ví dụ, Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn nhập khẩu khoảng 100% từ Kuwait, Nhà máy lọc dầu Bình Sơn nhập khẩu từ 30 - 35% từ nước ngoài. Có nghĩa, nguồn cung nội địa chỉ cân đối được khoảng hơn 50%.
Do đó đặt trong bối cảnh biến động thị trường, nguồn cung năng lượng dầu mỏ, khí đốt và xăng dầu bị tác động bởi cuộc chiến tại Trung Đông, thì việc đảm bảo nguồn cung xăng dầu là yêu cầu lớn đặt ra. Nếu chúng ta đưa xăng E10 vào sử dụng càng sớm càng tốt sẽ góp phần giảm được áp lực trong vấn đề xăng khoáng bởi nó đã thay thế được 10% xăng khoáng.
Có thể nói, việc đưa xăng E10 vào thị trường sẽ giúp giải quyết những “bài toán” lâu dài của Việt Nam như tự chủ năng lượng, giải quyết đầu ra cho lĩnh vực nông nghiệp, vấn đề môi trường, đồng thời, tạo ra cơ hội nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ - cụ thể là mặt hàng ethanol. Thực tế cho thấy, ở các quốc gia sản xuất nhiên liệu sinh học như Brazil, Ấn Độ, Thái Lan... họ đã tự chủ rất nhiều về năng lượng.

Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam trả lời phỏng vấn của báo chí
Tôi được biết, một số công ty thương nhân đầu mối lớn của Việt Nam đã chủ động tiến hành mua ethanol với số lượng nhiều nhất có thể, để đẩy sớm việc thực hiện lộ trình lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống. Bên cạnh đó, Chính phủ đã có những chỉ đạo, đề nghị các thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối nếu như có điều kiện để triển khai lộ trình E10 sớm, có thể triển khai ngay lập tức để làm sao giảm sức ép về vấn đề nguồn cung đối với xăng dầu.
- Việt Nam được đánh giá có tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nhiên liệu sinh học. Ông nhìn thấy gì về cơ hội nào đang mở ra trong phát triển ngành công nghiệp này?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học đã được Đảng và Nhà nước nhìn ra từ rất sớm, từ những năm 2010 và đã có một loạt các chiến lược, văn bản quy phạm pháp luật để định hình thị trường này. Tuy nhiên, quá trình triển khai thị trường nhiên liệu sinh học còn có một số hạn chế.
Do đó vừa qua, Chính phủ và Bộ Công Thương đã chuẩn hóa các văn bản để công tác xây dựng hành lang pháp lý sẽ tạo tiền đề cho phát triển nhiên liệu sinh học một cách toàn diện, đồng thời gợi mở những hướng phát triển mới trong ngành nhiên liệu sinh học, giúp khôi phục lại các nhà máy đã xây dựng và có cơ hội hoạt động hết công suất.
Phát triển nhiên liệu sinh học còn có thể tạo ra làn sóng xây dựng nhà máy chế biến ethanol, bởi Việt Nam là một nước nông nghiệp giàu tiềm năng về nguyên liệu ethanol như ngô, sắn, mía… Nếu dư địa thị trường đủ lớn, sẽ kích thích các nhà đầu tư.
Hiện, chúng ta đang có 5 - 6 nhà máy, nhưng có thể phát triển thêm hàng chục nhà máy nữa và không chỉ có xăng sinh học E10, còn có thể phát triển lên E20 như một loạt nước trong khu vực như Ấn Độ, Philippines, Thái Lan đã nâng lên E20 từ nhiều năm nay. Nếu nâng lên E20, chúng ta sẽ đảm bảo được 20% nguồn cung xăng dầu từ trong nước chủ động được.
Phát triển nhiên liệu sinh học còn tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm nông nghiệp như sắn và ngô - những nguyên liệu quan trọng để sản xuất ethanol nhiên liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân tại các vùng nguyên liệu.
- Xin cảm ơn ông!
Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam: Việc triển khai lộ trình xăng sinh học sẽ thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học trong nước. Nguồn nguyên liệu nông nghiệp phong phú, hệ thống cơ sở sản xuất ethanol đã được đầu tư trong những năm qua, cùng với mạng lưới phân phối xăng dầu rộng khắp trên toàn quốc là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển thị trường nhiên liệu sinh học.












