Mở rộng tiếp cận thị trường, đổi mới ưu đãi đầu tư nước ngoài

Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nhằm tháo gỡ triệt để các rào cản thể chế, nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường và chuyển đổi phương thức ưu đãi thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa và các đại biểu tham dự Phiên họp. Ảnh: VPQH

Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa và các đại biểu tham dự Phiên họp. Ảnh: VPQH

Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ đầu tư mới

Trình bày Tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, tại Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) sáng 30/9, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm thể chế hóa kịp thời các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị (như Nghị quyết số 10-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW). Mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật, loại bỏ mâu thuẫn, chồng chéo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, phấn đấu đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.

Dự án Luật tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn, gồm mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; đổi mới ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số; tiếp tục cải thiện thủ tục đầu tư; nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong đó, về mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Dự thảo Luật thiết kế theo hướng nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường theo lộ trình, trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, thống nhất và không phân biệt đối xử.

Việc sửa đổi cũng nhằm khắc phục những hạn chế của danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường, đồng thời thúc đẩy nâng hạng thị trường chứng khoán.

Về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Dự thảo Luật bổ sung 4 hình thức hỗ trợ đầu tư mới gồm: Phát triển chuỗi cung ứng; hỗ trợ sản xuất, cải tiến sản phẩm, công nghệ; hỗ trợ đầu tư ban đầu, tạo tài sản cố định; hỗ trợ hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ.

Chính sách được định hướng chuyển dần từ các hình thức ưu đãi truyền thống sang hỗ trợ gắn với hiệu quả dự án, quản trị vòng đời dự án và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Dự thảo cũng bổ sung chính sách miễn, giảm tiền sử dụng biển.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình Dự án Luật tại Phiên họp. Ảnh: VPQH

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình Dự án Luật tại Phiên họp. Ảnh: VPQH

Đối với ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt, Dự thảo hoàn thiện đối tượng, nguyên tắc và chính sách theo hướng cho phép Chính phủ quyết định gói hỗ trợ vượt trội, gắn với kết quả thực hiện cam kết đối với một số dự án cần thu hút, có tác động lan tỏa.

Việc bổ sung quy định này nhằm khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để được hưởng các ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện - Tờ trình của Chính phủ nêu.

Một nội dung đáng chú ý khác là Dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định hỗ trợ chuyển đổi, phát triển khu công nghiệp sinh thái thông qua cơ chế khấu hao nhanh cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp được chứng nhận sinh thái và doanh nghiệp sinh thái. Thời hạn hoạt động của dự án trong khu công nghiệp có thể được kéo dài nhưng không vượt quá 70 năm.

Chính sách hướng đến thúc đẩy việc đạt được mục tiêu: “Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước.”

Dự thảo cũng cho phép HĐND cấp tỉnh căn cứ khả năng ngân sách và định hướng phát triển, quyết định hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lao động tại cơ sở của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước. HĐND cấp tỉnh sẽ quy định tiêu chí, điều kiện, thủ tục và mức hỗ trợ nhưng không vượt mức trần do Chính phủ quy định.

Đối với Quỹ Hỗ trợ đầu tư, Dự thảo sửa đổi theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết về mô hình, địa vị pháp lý, nguồn vốn ngân sách, đối tượng, tiêu chí, điều kiện, thủ tục, mức hỗ trợ, hoàn trả chi phí và chính sách đặc thù của Quỹ; không phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành.

Chính sách thu hút đầu tư cũng được định hướng theo lĩnh vực, địa bàn, các vùng động lực và cực tăng trưởng. Theo đó, ưu tiên thu hút công nghệ cao, công nghệ xanh, hiện đại, có giá trị gia tăng; các vùng vệ tinh tập trung vào chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ hỗ trợ. Đối với các địa bàn khác, lựa chọn dự án phù hợp với lợi thế và từng bước nâng cao chất lượng đầu tư.

Nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Dự thảo Luật mở rộng đối tượng áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt cho các dự án đầu tư trong các ngành, lĩnh vực quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Đầu tư năm 2025 thực hiện tại địa điểm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, khu chức năng trong khu kinh tế và khu đất thực hiện dự án đã được thu hồi và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý theo quy định của pháp luật về đất đai; khu đất thực hiện dự án thuộc trường hợp thu hồi để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật Phát triển đô thị.

Làm rõ nguyên tắc, tiêu chí xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt

Thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Thường trực Ủy ban đề nghị đặt các nội dung sửa đổi trong mối liên hệ với Luật Đất đai, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đấu thầu, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cùng các luật có liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Cơ quan thẩm tra cơ bản thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường, song đề nghị rà soát quy định giao Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra. Ảnh: VPQH

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra. Ảnh: VPQH

Về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt. Cùng với đó, có cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư.

Các tiêu chí như vốn đầu tư, vốn giải ngân, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, giá trị sản xuất trong nước... cần được lượng hóa. Đồng thời, xác định rõ mức độ hoàn thành, trường hợp chỉ hoàn thành một phần cam kết và cơ chế duy trì, điều chỉnh, giảm hoặc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ.

Đối với các khoản chi được hỗ trợ, cần làm rõ đối tượng, điều kiện, phạm vi, mức hỗ trợ và cơ chế kiểm soát; quy định nguyên tắc không hỗ trợ trùng một khoản chi, giới hạn hoặc trần hỗ trợ, cơ chế xác minh, thu hồi và trách nhiệm kiểm tra, giám sát.

Thường trực Ủy ban cũng đề nghị xác định cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát việc cộng gộp hỗ trợ giữa các chính sách và nghiên cứu khả năng tích hợp, chia sẻ dữ liệu trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia.

Với cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ mối quan hệ với chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt, nhất là nhằm tránh hỗ trợ trùng cùng một khoản chi từ nhiều nguồn ngân sách. Đồng thời, cần xác định rõ nguyên tắc, giới hạn thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cơ chế kiểm soát việc sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư.

N. HỒNG

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/mo-rong-tiep-can-thi-truong-doi-moi-uu-dai-dau-tu-nuoc-ngoai