Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Khi một cấu trúc hành chính mới được hình thành, điều quan trọng không chỉ là bộ máy vận hành thông suốt hơn, mà còn là làm sao để mỗi làng, mỗi bản, mỗi cộng đồng không cảm thấy mình bị mờ đi trong tiến trình phát triển.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội
Khi cải cách hành chính chạm vào tầng sâu văn hóa
Nhìn lại một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chúng ta thường nghe nhiều đến những con số về tinh giản bộ máy, giảm đầu mối, rút ngắn quy trình, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Những con số ấy rất cần thiết, bởi một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian sẽ khó đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh, quản trị hiện đại và phục vụ người dân tốt hơn. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, chúng ta mới nhìn thấy phần “vỏ” của cải cách.
Nhìn từ văn hóa, đây là một cuộc chuyển dịch sâu hơn rất nhiều. Đó là sự chuyển dịch từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản trị theo cộng đồng; từ tư duy hành chính hóa đời sống văn hóa sang tư duy phục vụ, kiến tạo và đồng hành với người dân; từ việc coi văn hóa là một lĩnh vực chuyên môn riêng lẻ sang nhận thức rằng văn hóa chính là nền tảng tinh thần, là phần mềm của mọi cải cách thể chế.
Điểm thay đổi lớn nhất là cấp xã, phường trở thành không gian quản trị văn hóa trực tiếp hơn. Di tích, lễ hội, nhà văn hóa, thư viện cơ sở, câu lạc bộ dân gian, hương ước, quy ước, không gian tín ngưỡng, nghĩa trang, đình làng, nhà thờ họ, nghề truyền thống, các thực hành văn hóa cộng đồng… đều nằm gần hơn với chính quyền chịu trách nhiệm. Điều này mở ra cơ hội rất lớn để những vấn đề văn hóa ở cơ sở được nhận diện nhanh hơn, xử lý sát hơn, ít phải đi qua nhiều tầng nấc trung gian hơn.
Một ngôi đình xuống cấp, một lễ hội có nguy cơ bị thương mại hóa, một nhà văn hóa hoạt động hình thức, một tên làng cổ có nguy cơ bị lãng quên, một nghề truyền thống cần được kết nối với du lịch, một nghệ nhân cần được hỗ trợ để truyền dạy cho lớp trẻ… tất cả những việc ấy đều đòi hỏi chính quyền cơ sở phải gần dân, hiểu dân, hiểu phong tục và có khả năng hành động nhanh. Ở góc nhìn này, mô hình hai cấp có thể tạo ra một năng lực quản trị mới, năng động hơn và thực chất hơn.
Tuy nhiên, cơ hội bao giờ cũng đi liền với thách thức. Khi cấp xã được trao nhiều việc hơn, nhiệm vụ văn hóa cũng trở nên nặng hơn. Cán bộ văn hóa cơ sở không chỉ làm phong trào văn nghệ, thể thao hay tổ chức các ngày lễ kỷ niệm. Họ phải biết quản trị di sản, làm việc với cộng đồng, xử lý những xung đột mềm liên quan đến tín ngưỡng, tên gọi, ký ức làng xã, thiết chế văn hóa, không gian sinh hoạt chung; đồng thời phải biết kết nối văn hóa với du lịch, chuyển đổi số, giáo dục địa phương và phát triển kinh tế sáng tạo. Đây là yêu cầu rất mới, trong khi năng lực cán bộ, hạ tầng dữ liệu, nguồn lực tài chính và cơ chế phối hợp ở nhiều nơi vẫn chưa đồng đều.
Vì vậy, bức tranh một năm qua có thể nhìn bằng hai gam màu. Một mặt, bộ máy gọn hơn tạo điều kiện để văn hóa không bị chia cắt bởi quá nhiều tầng nấc quản lý. Mặt khác, sự thay đổi ranh giới hành chính cũng có thể làm xáo trộn những “ranh giới mềm” của ký ức, tập quán, tín ngưỡng và tình làng nghĩa xóm. Văn hóa không nằm trên bản đồ hành chính theo cách khô cứng. Văn hóa nằm trong trí nhớ của người dân, trong tên làng, mái đình, cây đa, bến nước, nghĩa trang, dòng họ, lễ hội, nghề truyền thống, trong những câu chuyện ông bà kể lại cho con cháu. Nếu không nhìn thấy tầng sâu ấy, cải cách hành chính có thể đúng về tổ chức nhưng lại thiếu độ ấm trong đời sống cộng đồng.
Điều đáng mừng là sau một năm, nhiều địa phương đã nhận ra điều đó. Việc sắp xếp không thể chỉ là cộng gộp cơ học các đơn vị hành chính cũ, càng không thể chỉ là thay đổi con dấu, biển tên, địa chỉ trên giấy tờ. Sáp nhập hành chính là một quá trình dung hợp văn hóa. Một xã, phường mới có thể rộng hơn, đông dân hơn, có nguồn lực lớn hơn, nhưng cũng chứa trong nó nhiều lớp ký ức, nhiều không gian văn hóa, nhiều cộng đồng cư dân với lịch sử, phong tục, tập quán khác nhau. Nếu không biết dung hợp, rất dễ tạo ra cảm giác bên này – bên kia, cũ – mới, trung tâm – ngoại vi. Nếu biết dung hợp, đó lại là cơ hội để tạo ra một bản sắc phong phú hơn, một nguồn lực phát triển lớn hơn.
Tôi cho rằng, bài học quan trọng nhất sau một năm là: năng lực thích ứng văn hóa của chính quyền mới không chỉ nằm ở khả năng ban hành văn bản hay hoàn thành quy trình tổ chức bộ máy, mà nằm ở khả năng lắng nghe những điều không ghi trong văn bản. Người dân có thể không nói bằng những khái niệm như “bản sắc”, “di sản”, “thiết chế văn hóa”, nhưng họ nói bằng nỗi nhớ tên làng, bằng sự gắn bó với đình chùa, bằng thói quen đi lễ hội, bằng niềm tự hào về nghề truyền thống, bằng cảm giác thuộc về một cộng đồng cụ thể.
Ở đâu chính quyền biết lắng nghe, đối thoại, tôn trọng người cao tuổi, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo, trưởng họ, người có uy tín trong cộng đồng, ở đó việc sắp xếp diễn ra êm hơn. Ở đâu chỉ làm theo tiến độ hành chính, coi văn hóa là việc có thể “xử lý sau”, ở đó dễ phát sinh khoảng cách tâm lý. Cải cách bộ máy muốn bền vững phải đi qua lòng dân; mà lòng dân trong văn hóa không thể đo chỉ bằng số phiếu đồng ý, mà phải đo bằng sự yên tâm, sự gắn bó và niềm tin rằng quê hương mình không bị mất tên trong tiến trình phát triển.
Biến sáp nhập thành cơ hội định vị lại bản sắc địa phương
Trong quá trình sắp xếp, có một “dòng chảy ngầm” rất đáng lắng nghe. Người dân có thể đồng thuận với chủ trương lớn, nhưng vẫn không khỏi băn khoăn: tên làng mình có còn không, lễ hội cũ sẽ tổ chức thế nào, đình làng có bị mờ đi không, nhà văn hóa đặt ở đâu, người già đi sinh hoạt có xa quá không, con cháu sau này còn biết mình thuộc về đâu không. Những câu hỏi ấy không phải là tâm lý cục bộ, càng không phải là sự níu kéo quá khứ. Đó là nhu cầu chính đáng được bảo vệ ký ức, căn tính và cảm giác thuộc về của cộng đồng.
Vì thế, điều quan trọng là phải phân biệt rõ giữa đổi mới quản trị và xóa bỏ ký ức. Ta có thể thay đổi địa giới hành chính để quản lý hiệu quả hơn, nhưng không thể coi ký ức làng xã chỉ là vài ký tự trên giấy tờ. Những tên làng cổ nếu không còn là tên đơn vị hành chính thì vẫn cần được trân trọng giữ lại trong đời sống văn hóa: trên biển chỉ dẫn, trong phòng truyền thống, trong bản đồ số, trong hồ sơ di sản, trong tên đường, tên trường, tên nhà văn hóa, trong các sản phẩm du lịch cộng đồng, trong chương trình giáo dục địa phương.
Một chủ trương hành chính bao giờ cũng mang tính “cứng”: có mốc thời gian, có tiêu chí, có quy trình, có thẩm quyền, có quyết định. Nhưng văn hóa lại là phần “mềm”: chậm hơn, sâu hơn, nhạy cảm hơn, gắn với cảm xúc, ký ức và lòng tự trọng cộng đồng. Muốn cái cứng vận hành trơn tru thì phải biết nâng niu cái mềm. Đó chính là nghệ thuật quản trị văn hóa trong cải cách hành chính hiện nay.
Từ thực tiễn một năm qua, có thể thấy những địa phương làm tốt thường có một điểm chung: không coi người dân là đối tượng thụ hưởng thụ động, mà coi họ là chủ thể cùng kiến tạo. Khi lấy ý kiến đặt tên, tổ chức lại thiết chế văn hóa, bảo tồn lễ hội, bố trí trung tâm sinh hoạt cộng đồng, hay xây dựng định hướng phát triển du lịch văn hóa, nếu người dân được tham gia ngay từ đầu, họ sẽ không có cảm giác bị “sắp xếp”. Ngược lại, họ thấy mình đang cùng chính quyền tạo dựng một không gian phát triển mới trên nền tảng ký ức cũ.
Trong thời gian tới, theo tôi, việc đầu tiên cần làm là xây dựng “bản đồ văn hóa” cho từng xã, phường sau sáp nhập. Bản đồ ấy không chỉ ghi di tích đã được xếp hạng, mà phải ghi cả tên làng cổ, lễ hội, nghề truyền thống, nghệ nhân, nhà thờ họ, nghĩa trang, không gian tín ngưỡng, câu lạc bộ dân gian, thiết chế văn hóa, ký ức cộng đồng, các món ăn, làn điệu dân ca, phong tục tập quán, nhân vật tiêu biểu của địa phương. Không có bản đồ văn hóa, chúng ta rất dễ quản lý bằng địa giới mới nhưng lại bỏ sót những lớp trầm tích cũ.
Thứ hai, cần có nguyên tắc đặt tên, đổi tên thật thận trọng. Tên gọi mới phải ưu tiên giá trị lịch sử, văn hóa, sự đồng thuận và khả năng nhận diện lâu dài. Không nên đặt tên theo kiểu ghép cơ học, khó nhớ, thiếu hồn. Một cái tên hay phải giúp người dân thấy mình trong đó, thấy quá khứ của mình trong đó, thấy niềm tự hào và tương lai của địa phương trong đó. Tên gọi không chỉ để quản lý. Tên gọi còn để nhớ, để thương, để nhận diện, để kể lại với con cháu.
Thứ ba, phải tổ chức lại thiết chế văn hóa cơ sở theo không gian mới. Sau sáp nhập, có nơi nhà văn hóa trở nên xa dân hơn; có nơi nhiều thiết chế chồng chéo; có nơi lại thiếu điểm sinh hoạt chung. Vì vậy, cần rà soát toàn bộ mạng lưới thiết chế văn hóa, không phải để xóa bỏ giản đơn, mà để bố trí lại theo nguyên tắc thuận tiện, công bằng, đa năng và có bản sắc. Nhà văn hóa trong giai đoạn mới không chỉ là nơi họp dân, mà phải trở thành không gian học tập cộng đồng, không gian sáng tạo, không gian sinh hoạt văn nghệ, thể thao, chuyển đổi số và kết nối các thế hệ.
Thứ tư, phải nâng cao năng lực cán bộ văn hóa cấp xã. Cán bộ văn hóa trong mô hình mới cần được đào tạo về quản trị di sản, quản lý lễ hội, truyền thông cộng đồng, chuyển đổi số, phát triển du lịch văn hóa, xây dựng sản phẩm sáng tạo, xử lý xung đột văn hóa và làm việc với các chủ thể cộng đồng. Nếu cán bộ cơ sở không đủ năng lực, những chủ trương rất đúng ở tầm vĩ mô sẽ khó đi vào đời sống. Giao nhiệm vụ phải đi đôi với giao nguồn lực, giao thẩm quyền, giao dữ liệu và giao công cụ thực thi.
Thứ năm, cần số hóa ký ức cộng đồng. Mỗi địa phương sau sáp nhập nên có cơ sở dữ liệu văn hóa mở, trong đó lưu giữ hình ảnh, tư liệu, câu chuyện, nhân vật, lễ hội, địa danh, nghề truyền thống, món ăn, làn điệu dân ca, phong tục tập quán. Đây không chỉ là việc lưu trữ, mà còn là cách trao lại ký ức cho thế hệ trẻ bằng ngôn ngữ của thời đại số. Khi một em nhỏ có thể quét mã QR để biết tên làng mình có từ bao giờ, lễ hội quê mình bắt nguồn từ đâu, nghề truyền thống của cha ông từng phát triển ra sao, lúc đó cải cách hành chính đã gặp được giáo dục văn hóa, chuyển đổi số đã gặp được căn tính cộng đồng.
Cuối cùng, cần nhìn sáp nhập không chỉ như một việc tổ chức lại bộ máy, mà như cơ hội định vị lại bản sắc địa phương. Khi một xã, phường mới hình thành từ nhiều làng, nhiều bản, nhiều không gian văn hóa, điều quan trọng không phải là làm cho tất cả giống nhau, mà là biết cộng hưởng những khác biệt. Một địa phương mạnh trong kỷ nguyên mới không phải là địa phương có ít tên gọi hơn, mà là địa phương biết biến mỗi tên gọi, mỗi di sản, mỗi ký ức thành nguồn lực phát triển.
Nếu làm được như vậy, mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ không chỉ tạo ra một bộ máy gọn hơn, mà còn tạo ra một năng lực quản trị văn hóa sâu hơn; không chỉ sắp xếp lại không gian hành chính, mà còn khơi dậy sức mạnh mềm của làng xã, di sản và con người Việt Nam. Cải cách khi ấy không chỉ là tinh gọn để mạnh hơn, mà còn là biết giữ lại những gì làm nên hồn cốt của cộng đồng, để mỗi bước đi về phía tương lai vẫn có gốc rễ bền sâu trong ký ức, bản sắc và niềm tự hào quê hương.
Mời độc giả xem thêm video Ngày hội non sông:











