Một số nội dung cốt lõi của dự thảo Luật An ninh dữ liệu
Dự thảo Luật An ninh dữ liệu được Bộ Công an chủ trì xây dựng với quy định toàn diện từ nguyên tắc chung đến các cơ chế bảo vệ cụ thể, nguồn lực bảo vệ và quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu. Trong đó, một trong những nội dung cốt lõi của dự thảo Luật tập trung vào việc phân định rõ phạm vi điều chỉnh, quản lý theo cấp độ rủi ro, bảo vệ an ninh dữ liệu xuyên suốt vòng đời, chủ động phòng ngừa và ứng phó sự cố.
Phân định rõ phạm vi điều chỉnh, tránh chồng chéo với các luật có liên quan
Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo Luật An ninh dữ liệu là xác lập rõ phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc áp dụng pháp luật và ranh giới với các luật chuyên ngành có liên quan, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Theo đó, dự thảo Luật phân định rõ nguyên tắc, điều kiện xử lý dữ liệu cá nhân, quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân tiếp tục thực hiện theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; hoạt động xây dựng, quản trị, khai thác, chia sẻ, phân loại dữ liệu theo tính chất quan trọng thực hiện theo pháp luật về dữ liệu; việc bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin thực hiện theo pháp luật về an ninh mạng. Riêng việc bảo vệ an ninh của chính dữ liệu, xuyên suốt vòng đời, được thực hiện theo Luật An ninh dữ liệu.

Ảnh minh họa: Bộ Công an
Cách phân định này giúp tránh tình trạng một tổ chức, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục trùng lặp cho cùng một nội dung quản lý. Đồng thời, dự thảo Luật quy định nguyên tắc một đối tượng, một nội dung rủi ro chỉ được đánh giá, thẩm định, kiểm tra một lần, qua đó giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.
Bảo vệ an ninh dữ liệu xuyên suốt vòng đời, kiểm soát rủi ro trong hoạt động xuyên biên giới
Dự thảo Luật xác lập định hướng bảo vệ an ninh dữ liệu xuyên suốt toàn bộ vòng đời, từ khâu thu thập, lưu trữ, xử lý, truyền đưa cho đến khi tiêu hủy. Đồng thời, dự thảo quy định việc kiểm soát chặt chẽ, có phân hóa theo cấp độ rủi ro đối với hoạt động chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới nhằm bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Theo định hướng chung, mức độ yêu cầu bảo vệ và kiểm soát tăng dần theo cấp độ rủi ro của dữ liệu. Phần lớn dữ liệu có mức độ rủi ro thấp được tạo điều kiện lưu thông thuận lợi, hạn chế tối đa phát sinh thủ tục hành chính, trong khi dữ liệu có mức độ rủi ro cao được quản lý chặt chẽ hơn, tương xứng với nguy cơ có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật bổ sung cơ chế bảo vệ tổ chức, cá nhân trong nước trước yêu cầu cung cấp dữ liệu trực tiếp từ nước ngoài không thông qua kênh hợp pháp, phù hợp với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia và thông lệ quốc tế về tương trợ tư pháp.
Chủ động phòng ngừa, theo dõi và ứng phó sự cố an ninh dữ liệu
Một nội dung đáng chú ý khác của dự thảo Luật là xác lập định hướng chủ động phòng ngừa, theo dõi và ứng phó khi xảy ra sự cố an ninh dữ liệu, bảo đảm Nhà nước có công cụ phản ứng kịp thời đối với các sự cố nghiêm trọng.
Đồng thời, dự thảo Luật giới hạn chặt chẽ phạm vi, điều kiện áp dụng các biện pháp bảo vệ để không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo đó, các biện pháp mang tính hạn chế quyền chỉ được áp dụng khi có căn cứ rõ ràng, theo nguyên tắc ưu tiên biện pháp ít hạn chế nhất, có thời hạn áp dụng cụ thể, có cơ chế báo cáo, giám sát và bảo đảm quyền kiến nghị, khiếu nại, khởi kiện, được bồi thường của tổ chức, cá nhân trong trường hợp biện pháp được áp dụng trái pháp luật.
Những quy định này nhằm bảo đảm yêu cầu chủ động phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ, sự cố an ninh dữ liệu, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh dữ liệu.
