Một tháng triển khai năm học mới, Bộ GD&ĐT rà soát loạt vấn đề trọng tâm
Sáng 2/10, Bộ GD&ĐT tổ chức hội nghị rà soát, đánh giá một số nhiệm vụ trọng tâm đầu năm học 2026-2027 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn phát biểu khai mạc Hội nghị.
Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp với kết nối trực tuyến với 34 điểm cầu UBND các tỉnh, thành phố. Tham dự tại điểm cầu chính Bộ GD&ĐT có Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn; Thứ trưởng Thường trực Phạm Ngọc Thưởng; Thứ trưởng Nguyễn Thị Quyên Thanh; đại diện: Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Dân tộc và Tôn giáo; lãnh đạo các cục, vụ, đơn vị thuộc Bộ GD&ĐT.
Tham dự tại điểm cầu các địa phương có đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, thành phố; lãnh đạo các sở GD&ĐT; đại diện Công an tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan cấp tỉnh; các phòng chuyên môn thuộc sở GD&ĐT; lãnh đạo một số xã, một số cơ sở giáo dục tại các xã biên giới.
5 vấn đề tập trung thảo luận
Phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, chỉ trong hai tuần qua, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đã ba lần họp và có kết luận về công tác giáo dục, từ sắp xếp các cơ sở giáo dục; cung ứng sách giáo khoa, đáp ứng chương trình và một số vấn đề trọng tâm đến giải quyết tình trạng thừa, thiếu giáo viên gắn với công tác đào tạo giáo viên tại các trường đại học sư phạm. Điều này cho thấy sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Chính phủ đối với giáo dục và đào tạo.
Năm học 2026 - 2027, toàn ngành xác định chủ đề “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”. Theo Bộ trưởng, đây là năm học nhiều cơ sở giáo dục bắt đầu vận hành theo mô hình tổ chức mới sau sắp xếp, đồng thời là năm thứ hai toàn ngành thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31, yêu cầu chuyển từ quản lý giáo dục sang quản trị phát triển giáo dục với 18 nhiệm vụ cụ thể, đồng thời đòi hỏi sản phẩm phải được thể hiện rõ ràng, có kết quả thực chất. Làm sao ngay từ đầu năm học, các cơ sở giáo dục bảo đảm vận hành ổn định, đủ giáo viên, bữa ăn an toàn, dữ liệu chính xác và học sinh được đến trường với đầy đủ các điều kiện.
Hội nghị được Bộ GD&ĐT tổ chức nhằm cùng các bộ, ngành và 34 tỉnh, thành phố rà soát việc thực hiện Chỉ thị số 31 và các kết luận của Thủ tướng Chính phủ trong những tuần đầu năm học; xác định nhiệm vụ đã hoàn thành, nhiệm vụ đến hạn nhưng chưa hoàn thành, đồng thời làm rõ những vấn đề cần tháo gỡ, đề xuất, kiến nghị giải quyết. Tại hội nghị, Bộ trưởng đề nghị tập trung vào 5 nội dung:
Thứ nhất, vận hành các cơ sở giáo dục sau sắp xếp. Bộ trưởng cho biết, trong tháng qua, Bộ GD&ĐT đã thành lập 4 đoàn khảo sát, kiểm tra tại các địa phương. Nhiều địa phương đã làm tốt công tác này. Tuy nhiên, giảm đầu mối, sắp xếp đội ngũ nhà giáo - mới là một phần; quan trọng hơn là bảo đảm các trường vận hành ổn định, thông suốt, bảo đảm chất lượng và quyền tiếp cận trường, lớp của học sinh; chăm lo đầy đủ cho từng học sinh, không để chất lượng suy giảm, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường.
Thứ hai, xây dựng, vận hành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Đến thời điểm khai giảng, 107 trường đã khánh thành. Tuy nhiên, một số trường chưa hoàn thành đầy đủ các hạng mục. Do đó, cần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện, đặc biệt là các hạng mục thiết yếu phục vụ ăn, ở, học tập của học sinh và nơi ăn, ở của giáo viên.
Đồng thời, cần bảo đảm các trường vận hành an toàn, thông suốt, vừa bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo, vừa bảo đảm chất lượng sinh hoạt của học sinh và giáo viên. Bên cạnh đó, đẩy nhanh tiến độ thi công các trường giai đoạn 2 để hoàn thành sớm theo yêu cầu của năm học, không để tình trạng bước sang năm học 2027 - 2028 mà các trường vẫn chưa hoàn thành.
Thứ ba, cung cấp bữa ăn bán trú, nội trú cho học sinh, bảo đảm dinh dưỡng và an toàn. Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị; thời gian qua, báo chí cũng phản ánh tại nhiều nơi về chất lượng bữa ăn, an toàn thực phẩm và thời gian cung cấp suất ăn. Qua đó có thể thấy nhiều địa phương đã có những cải thiện, nỗ lực, với sự vào cuộc trực tiếp của các cấp chính quyền. Tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát kỹ những khó khăn, vướng mắc và những nơi chưa thực hiện tốt để có chỉ đạo trong thời gian tới.
Thứ tư, chuyển đổi số trong ngành. Về nội dung này, Bộ trưởng cho biết cơ sở dữ liệu ngành giáo dục và đào tạo đang được hoàn thiện với số lượng rất lớn các cơ sở giáo dục, học sinh và nhà giáo. Đặc biệt, dữ liệu học bạ số, văn bằng số đóng vai trò quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính, không chỉ của ngành Giáo dục. Đồng thời, hệ thống văn bằng số sẽ cung cấp bức tranh về cơ cấu trình độ của đội ngũ lao động, qua đó phục vụ việc phát triển và hoạch định chính sách nhân lực. Việc cập nhật chính xác dữ liệu, đặc biệt về trường, lớp, học sinh và đội ngũ nhà giáo, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, đề xuất số lượng biên chế.
Thứ năm, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và việc bố trí, sử dụng nhân lực sau sắp xếp. Tại hội nghị, cần thảo luận những vướng mắc trong việc bố trí cán bộ quản lý, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng sau sắp xếp theo hướng tối ưu; đồng thời đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên, đặc biệt ở một số môn học và tại những vùng còn khó khăn.

Quang cảnh hội nghị.
Để Hội nghị đạt kết quả thực chất, Bộ trưởng yêu cầu các ý kiến nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ nhiệm vụ nào theo Chỉ thị số 31 đã hoàn thành, nhiệm vụ nào đến hạn nhưng chưa hoàn thành, khó khăn ở đâu, vướng mắc ở khâu nào và trách nhiệm thuộc về ai; không né tránh, không báo cáo chung chung. Số liệu báo cáo phải chính xác, thống nhất về phạm vi, có nguồn và có thể đối chiếu với cơ sở dữ liệu ngành. Đồng thời, phân định rõ thẩm quyền; các kiến nghị phải cụ thể, khả thi.
Mạng lưới cơ bản hoàn thành sắp xếp, hoạt động giáo dục không bị gián đoạn
Báo cáo kết quả rà soát, đánh giá một số nhiệm vụ trọng tâm đầu năm học 2026-2027 đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, về công tác chỉ đạo, ông Thái Văn Tài - Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông cho biết: Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ GD&ĐT đã ban hành tương đối đầy đủ các chủ trương, quy định và hướng dẫn để chuyển từ sắp xếp tổ chức sang tổ chức vận hành ổn định, hiệu quả. Trọng tâm hiện nay không còn là “có sắp xếp hay không” mà là mô hình sau sắp xếp có vận hành tốt, bảo đảm chất lượng, an toàn và quyền học tập của học sinh hay không.
Bộ GD&ĐT đã tổ chức khảo sát trực tuyến đối với cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục thuộc 34 tỉnh, thành phố; duy trì Tổ công tác phản ứng nhanh để thường xuyên theo dõi, hướng dẫn, giải đáp và tổng hợp tình hình; đồng thời thành lập 4 đoàn kiểm tra thực tế tại 12 địa phương. Trên cơ sở kết quả khảo sát, kiểm tra và báo cáo của các địa phương, Bộ kịp thời hướng dẫn, xử lý những khó khăn, vướng mắc về bố trí đội ngũ, tổ chức hoạt động và điều kiện vận hành của cơ sở giáo dục sau sắp xếp.
Về kết quả đạt được, ông Thái Văn Tài cho biết, 34/34 địa phương đã thực hiện sắp xếp; số cơ sở giáo dục công lập giảm từ 37.530 xuống 18.555, giảm 18.975 đầu mối, tương ứng 50,6%.
Sau sắp xếp hình thành 13.518 cơ sở tổ chức theo mô hình đa cơ sở chiếm 72,9%; hình thành 2.418 trường phổ thông nhiều cấp học, gồm 2.013 trường TH-THCS, 391 trường THCS-THPT và 14 trường ba cấp. Theo số liệu báo cáo hiện có của các địa phương, 10.534 phân hiệu đã được thành lập.
Việc giảm đầu mối pháp nhân không làm giảm tương ứng các địa điểm dạy học; các phân hiệu, điểm trường cần thiết vẫn được duy trì để bảo đảm tiếp cận giáo dục.
Mục tiêu tinh gọn đầu mối cơ bản đạt; nguyên tắc duy trì hoạt động dạy học và quyền học tập của học sinh cơ bản được bảo đảm. Tuy nhiên số trường sau sắp xếp còn nhiều phân hiệu, điểm trường, điều này cần được tiếp tục thực hiện tinh gọn trong thời gian tới để bảo đảm hiệu quả vận hành, đầu tư cơ sở vật chất và sử dụng đội ngũ giáo viên.
Các cơ sở sau sắp xếp cơ bản được tổ chức theo một đầu mối pháp nhân, một hiệu trưởng, sử dụng chung đội ngũ, tài chính, tài sản và cơ sở vật chất. Hoạt động giáo dục đầu năm học được duy trì liên tục; chưa ghi nhận vấn đề phát sinh trên diện rộng ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh.
Mô hình tổ chức mới đã hình thành và bước đầu vận hành; tuy nhiên chất lượng quản trị chưa đồng đều, nhất là tại các cơ sở quy mô lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, điểm trường.
Đã tinh gọn đáng kể đội ngũ quản lý, bước đầu bổ sung nhân lực trực tiếp giảng dạy. Số cán bộ quản lý giảm 33.870 người; trong đó: 21.009 người được bố trí làm giáo viên; 479 người chuyển công tác khác; 3.559 người nghỉ chế độ; theo báo cáo từ các địa phương hiện có 8.823 người đang trong quá trình thực hiện phương án bố trí.
Mục tiêu tinh gọn vị trí quản lý và tăng nhân lực trực tiếp giảng dạy bước đầu đạt. Tuy nhiên, việc chuyển cán bộ quản lý sang giáo viên mới giải quyết được mặt số lượng; hiệu quả thực tế còn phụ thuộc môn học, cấp học, trình độ và địa bàn.
Đã xác định tương đối rõ tình trạng thiếu, thừa và khả năng điều tiết giáo viên. Tính toán sơ bộ nhu cầu bổ sung giáo viên năm học 2026-2027 còn khoảng 43.267 người, tập trung ở một số cấp học, môn học và địa bàn. Việc rà soát đội ngũ đã chuyển từ cách tính tổng số sang xác định theo cấp học - môn học - địa bàn - cơ sở, tạo cơ sở cho điều tiết và tuyển dụng có trọng tâm.
Ông Thái Văn Tài cũng cho biết, sau sắp xếp, trường quy mô lớn, nhiều địa điểm đã trở thành một vấn đề quản trị mới của hệ thống, cần cơ chế theo dõi và hỗ trợ riêng.
Bên cạnh kết quả đạt được, các khó khăn, bất cập cũng được Bộ GD&ĐT chỉ ra. Theo đó, một số nơi mới hoàn thành “sắp xếp trên hồ sơ”, chưa hoàn thành đầy đủ “vận hành trên thực tế”; một số nơi mới hoàn thành “sắp xếp trên hồ sơ”, chưa hoàn thành đầy đủ “vận hành trên thực tế”; việc phân công, ủy quyền tại trường nhiều địa điểm chưa thật rõ; thiếu giáo viên vẫn là điểm nghẽn, nhưng bản chất là mất cân đối cơ cấu; việc đưa cán bộ quản lý trở lại giảng dạy cần đánh giá để có phương án bồi dưỡng.
Một số khó khăn, vướng mắc có tính chất liên ngành, không thể giải quyết chỉ bằng hướng dẫn chuyên môn của Bộ GD&ĐT, gồm: vị trí việc làm, số lượng cấp phó và biên chế; chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý sau sắp xếp, nhất là hiệu trưởng trường có quy mô lớn và phó hiệu trưởng phụ trách phân hiệu, điểm trường; định mức nhân sự hỗ trợ giáo dục; quản lý tài chính, tài sản và đất đai; nguồn lực đầu tư, sửa chữa cơ sở vật chất; cơ chế tổ chức, quản trị và vận hành đối với cơ sở giáo dục có quy mô đặc biệt lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, điểm trường.
Các nội dung này cần được rà soát, xử lý đồng bộ theo thẩm quyền, trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm và tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương có liên quan. Do đó, cần có cơ chế phối hợp giữa Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã; xác định cụ thể cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và thời hạn xử lý, khắc phục tình trạng chờ hướng dẫn hoặc phối hợp chưa kịp thời.

Ông Thái Văn Tài - Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông báo cáo kết quả rà soát, đánh giá một số nhiệm vụ trọng tâm đầu năm học 2026-2027 đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông.
Vận hành trường nội trú xã biên giới: kết quả đáng ghi nhận và những vấn đề cần tiếp tục quan tâm
Việc đầu tư, xây dựng và đưa vào vận hành trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được chỉ đạo thống nhất, liên tục từ Trung ương đến địa phương.
Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, đến ngày 5/9/2026, 107/108 trường tổ chức khai giảng; 1 trường Lóng Sập, Sơn La chưa đủ điều kiện. Sau một tháng, 101/108 trường đã vận hành tại cơ sở mới; 7 trường chưa vận hành tại cơ sở mới chủ yếu do các hạng mục nội trú, bán trú chưa hoàn thiện và yêu cầu bảo đảm an toàn cho học sinh. Việc học tập tại các trường này vẫn được duy trì tại cơ sở hiện có.
Đây là kết quả đáng ghi nhận ở khía cạnh không để việc chậm hoàn thiện công trình làm gián đoạn việc học của học sinh, đồng thời cho thấy nguyên tắc “chỉ đưa học sinh vào cơ sở mới khi bảo đảm an toàn” đã được thực hiện.
Quy mô 108 trường gồm 113.303 học sinh, trong đó 70.052 học sinh nội trú, 43.251 học sinh bán trú; đội ngũ có 451 cán bộ quản lý, 6.500 giáo viên và 783 nhân viên. Tỷ lệ huy động và chuyên cần tại nhiều trường đạt trên 95%, một số trường đạt 98–99%; chưa ghi nhận học sinh bỏ học do hoàn cảnh kinh tế hoặc đi làm thuê.
Đây là kết quả quan trọng nhất về bảo đảm quyền học tập, nhất là tại địa bàn biên giới, nơi khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội có thể tác động trực tiếp đến khả năng duy trì việc học.
Về tổ chức dạy học và giáo dục toàn diện, mô hình bước đầu tạo được môi trường giáo dục tương đối toàn diện, không chỉ tập trung vào “ăn, ở” mà đã hình thành hoạt động giáo dục, rèn luyện, tự quản và phối hợp với gia đình, chính quyền, Công an, Bộ đội Biên phòng, y tế.
Về ăn, ở, chăm sóc và an toàn học sinh, các trường đủ điều kiện cơ sở vật chất đã tổ chức ăn, ở cho học sinh theo quy mô thực tế; thực hiện bếp ăn tập thể hoặc lựa chọn đơn vị cung cấp suất ăn, thực phẩm; áp dụng quy trình một chiều, kiểm thực ba bước, lưu mẫu thức ăn 24 giờ. Chưa ghi nhận sự cố ngộ độc thực phẩm trong các trường thuộc kỳ tổng hợp.
Các trường đã tổ chức quản lý học sinh nội trú, bán trú ngoài giờ học; nhiều nơi bố trí trực 24/24 giờ và phối hợp với gia đình, chính quyền, Công an, Bộ đội Biên phòng, y tế. Đối với học sinh tiểu học lần đầu xa gia đình, các trường đã bước đầu chú trọng hỗ trợ tâm lý và hình thành kỹ năng tự phục vụ.
Đánh giá chung, sau một tháng, mô hình cơ bản duy trì được hoạt động dạy học, không làm gián đoạn quyền học tập của học sinh; tỷ lệ huy động, chuyên cần cao; công tác ăn, ở, chăm sóc từng bước đi vào nền nếp.
Tuy nhiên, các điều kiện bảo đảm phía sau hoạt động giáo dục vẫn chưa đồng đều và đang xuất hiện những điểm nghẽn cần xử lý ngay. Cụ thể, 70/108 trường chưa hoàn thành đầy đủ hạng mục, tạo rủi ro khi vừa học vừa thi công. Một số trường đã hoạt động nhưng điều kiện pháp lý - tài chính chưa hoàn tất. Đội ngũ chưa phù hợp với mô hình nội trú liên cấp. Chưa có đầy đủ nhân lực chuyên trách cho quản lý học sinh nội trú. Có một số bất cập về thiết kế, công năng và điều kiện vận hành. Chi phí vận hành phát sinh nhưng chưa có cơ chế đầy đủ.

Ông Nguyễn Sơn Hải - Quyền Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Thông tin báo cáo tình hình triển khai Học bạ số, văn bằng số và cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục.
Tổ chức bữa ăn bán trú, bảo đảm dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
Hệ thống chỉ đạo đã chuyển từ yêu cầu “tổ chức được bữa ăn” sang “quản trị an toàn và chất lượng toàn bộ chuỗi bữa ăn”, đồng thời chuyển mạnh trách nhiệm từ nhà trường đơn thuần sang trách nhiệm liên thông của UBND cấp tỉnh, cấp xã, cơ sở giáo dục, ngành y tế và đơn vị cung cấp.
Quy mô tổ chức bữa ăn ngày càng lớn, nhất là ở mầm non và vùng khó khăn. Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, bữa ăn học đường được tổ chức với quy mô lớn: 96,8% cơ sở giáo dục mầm non tổ chức bán trú; 95,2% cơ sở mầm non xây dựng thực đơn theo yêu cầu của Chương trình giáo dục mầm non và hướng dẫn của Bộ Y tế; khoảng 55% trường phổ thông tổ chức bữa ăn bán trú; tỷ lệ này tại trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú đạt khoảng 93%.
Kết quả cho thấy bữa ăn học đường đã trở thành bộ phận quan trọng của hoạt động giáo dục, nhất là trong tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, bán trú và nội trú.
Hình thức tổ chức ngày càng đa dạng, phù hợp điều kiện địa phương. Công tác dinh dưỡng và giám sát bữa ăn bước đầu được chú trọng. Đã xuất hiện những mô hình tăng tính công khai, truy xuất và giám sát.
Một số địa phương đã hình thành cách làm có thể tham khảo. Như, tại Đà Nẵng, Sở GD&ĐT phối hợp Sở Y tế cung cấp danh sách 23 đơn vị đủ điều kiện cung ứng thực phẩm để các trường lựa chọn, đồng thời hướng dẫn xây dựng thực đơn.Tại Khánh Hòa, có 63.835/70.192 trẻ mầm non ra lớp được tổ chức ăn bán trú, đạt 90,94%. Tại thành phố Huế, 184 trường tổ chức bán trú cho 82.107 trẻ em, học sinh; trong đó 173 cơ sở tự tổ chức nấu ăn và 11 cơ sở hợp đồng cung cấp suất ăn. Việc phân biệt hình thức tổ chức đã bước đầu giúp xác định rõ hơn trách nhiệm quản lý và phương thức kiểm soát rủi ro.
Về khó khăn, bất cập, vấn đề lớn nhất là an toàn thực phẩm chưa được bảo đảm đồng đều; điều kiện cơ sở vật chất chưa đồng đều; nhân lực phục vụ bữa ăn và y tế học đường còn thiếu; trách nhiệm giữa các chủ thể ở một số nơi chưa thật rõ; trách nhiệm giữa các chủ thể ở một số nơi chưa thật rõ; một số chính sách, định mức còn bất cập.
Triển khai học bạ số, văn bằng số và cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục
Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 2623/QĐ-BGDĐT, Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT và Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT; hướng dẫn sử dụng, quản lý học bạ số, kiểm soát chất lượng dữ liệu, cấp, lưu trữ, xác thực văn bằng, chứng chỉ số; đồng thời đôn đốc địa phương cập nhật dữ liệu đầu năm học, ký số hồ sơ và xử lý thay đổi mã trường, thông tin pháp nhân sau sắp xếp.
Việc triển khai được đặt trong Kế hoạch số 1496/KH-BGDĐT ngày 23/7/2026 về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số và Công văn số 5943/BGDĐT-GDPT ngày 3/9/2026 về hoàn thiện, bàn giao, xác thực dữ liệu cơ sở giáo dục sau sắp xếp, kết nối và đồng bộ Học bạ số. Bộ đồng thời yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục, Sở GD&ĐT và đơn vị quản trị hệ thống đối với từng nhóm dữ liệu và thời hạn xử lý.
Kết quả đạt được, đến 17h ngày 30/9/2026, đã phát hành 17.917.159/18.924.491 học bạ số năm học 2025-2026, đạt 94,7%. Việc ký số hồ sơ trường (năm học 2025-2026) đã được thực hiện tại 22.524/25.453 trường, đạt 87,7%; trong đó có 22.313 trường xác nhận hoàn thành ký số.
Các cơ sở giáo dục đã cập nhật dữ liệu học sinh năm học 2026-2027 lên cơ sở dữ liệu ngành đạt 95%. Việc chuẩn hóa dữ liệu cơ sở giáo dục, học sinh, lớp học và đội ngũ tạo nền tảng cho quản trị, khai thác và sử dụng dữ liệu thống nhất.
Về khó khăn, vướng mắc, báo cáo của Bộ GD&ĐT cho biết, còn khoảng 5% học bạ số chưa phát hành; khoảng 11,5% trường chưa ký số hồ sơ của năm học 2025-2026. Một số phân hiệu, điểm trường vùng sâu, vùng xa, đường truyền Internet chưa ổn định, băng thông và thiết bị công nghệ thông tin còn hạn chế. Việc cấp mới, gia hạn, duy trì chứng thư số phát sinh chi phí thường xuyên; nguồn thiết bị phục vụ chữ ký số chuyên dùng có nơi chưa đáp ứng kịp thời
Về chức năng phần mềm và thay đổi thông tin sau sắp xếp, vướng mắc chủ yếu liên quan đến thông tin định danh cá nhân, mã trường, mã số thuế, tài khoản VNeID, chữ ký số và việc gộp, tách, đổi mã đối với cơ sở giáo dục sau sắp xếp…
Về chất lượng dữ liệu và năng lực thực hiện, tại một số địa phương, số liệu huy động người học, đội ngũ, cơ sở vật chất và kết quả cập nhật trên hệ thống còn chênh lệch giữa báo cáo tổng hợp với dữ liệu chi tiết. Năng lực số của một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên chưa đồng đều; khối lượng rà soát, đối chiếu, chuẩn hóa và xác thực dữ liệu lớn, nhất là đối với giáo viên chủ nhiệm tiểu học. Tiến độ chuẩn bị điều kiện kỹ thuật cho văn bằng số chưa đồng đều.
Tại Hội nghị, các ý kiến tập trung đánh giá kết quả, nhận diện khó khăn, vướng mắc và đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác vận hành các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông sau sắp xếp trường lớp; vận hành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới; tổ chức bữa ăn bán trú, bảo đảm dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm bữa ăn học đường; triển khai cơ sở dữ liệu ngành, học bạ số, văn bằng số và tình trạng thừa thiếu giáo viên, việc bố trí, sắp xếp, sử dụng đội ngũ nhà giáo.
