Mùa khai trường nhớ về nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính - tác giả bài thơ 'Đi học'
Mỗi mùa khai trường về, những câu thơ trong trẻo của bài thơ “Đi học” lại vang lên làm xao xuyến biết bao thế hệ học trò. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau những vần thơ vượt thời gian ấy là cuộc đời tài hoa, lãng mạn và sự hy sinh anh dũng của nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính - người con của miền trung du Phú Thọ, đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
Tâm hồn thơ trong trẻo giữa miền trung du gian khổ
Những ngày đầu tháng 9, không khí đón chào năm học mới lại nô nức trên khắp mọi nẻo đường, từ phố thị sầm uất đến những bản làng xa xôi. Trong cái nắng thu vàng nhẹ và làn gió mát lành của mùa tựu trường, vang vọng đâu đó là những vần thơ quen thuộc: “Hôm qua em tới trường/ Mẹ dắt tay từng bước/ Hôm nay mẹ lên nương/ Một mình em tới lớp…”. Mấy ai biết rằng, tác giả của những vần thơ rất đỗi thân thương, trong sáng ấy lại là một người chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ - liệt sĩ Hoàng Minh Chính.

Chân dung nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính. Ảnh: qdnd.vn
Sinh ra tại tỉnh Nam Định (trước đây), nhưng mảnh đất trung du Phú Thọ mới thực sự là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ và tâm hồn thơ ca của Hoàng Minh Chính. Năm 1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp gay go, người mẹ trẻ Lê Thị Oanh đã gánh hai con nhỏ (chị Loan và Minh Chính) trên hai chiếc thúng lót rơm, mò mẫm trong đêm ngược sông Lô lên Chiến khu Việt Bắc tìm chồng. Những năm tháng ấy, đất trời trung du gian khổ nhưng đong đầy tình người.
Lên miền trung du Vĩnh Phú (trước đây), cậu bé Chính bước vào lớp 1. Mấy năm đầu, mẹ và chị thay nhau đưa em tới trường. Nhưng có những ngày mẹ và chị bận làm nương rẫy, cậu học trò nhỏ một mình lội bộ qua những đồi chè, rừng cọ để đến lớp. Bối cảnh gian khó mà êm đềm ấy chính là chất liệu nguyên bản để Hoàng Minh Chính sáng tác nên bài thơ “Đi học” khi mới 15 tuổi, trong một lần ghé thăm Trạm Thản, thuộc Phù Ninh, Vĩnh Phú (trước đây): “Hôm qua em tới trường/ Mẹ dắt tay từng bước.../ Đường xa em đi về/ Có chim reo trong lá/ Có nước chảy dưới khe/ Thì thào như tiếng mẹ”.

Bản thảo bài thơ "Đi học" được gia đình nhà thơ giữ gìn cẩn thận. Ảnh: qdnd.vn
Không chỉ chịu khó giúp mẹ cuốc đất, gánh em, trông nom việc nhà, Hoàng Minh Chính sớm bộc lộ năng khiếu văn thơ. Dưới mái trường cấp 3 Hùng Vương, Việt Trì, Vĩnh Phú (1961-1963), tài năng thơ ca của Hoàng Minh Chính càng nở rộ qua các ngày hội thơ. Cũng tại nơi đây, trái tim thi sĩ tuổi học trò bắt đầu biết rung động e ấp trước người bạn gái cùng trường, cô nữ sinh Cù Thị Kim Hợp.
Ngày ấy, Chính là một nam sinh trầm tính, thông minh và tài hoa. Tình cảm của anh dành cho cô bạn học cùng trường mộc mạc, kín đáo nhưng vô cùng sâu nặng. Khi ở chiến trường, anh gửi gắm tất cả vào những trang nhật ký và các bài thơ viết riêng tặng “nàng thơ” Kim Hợp. Để rồi sau này, trong những lần chỉnh sửa lại bài thơ "Đi học", hình ảnh “Cô giáo em tre trẻ/ Dạy em hát rất hay” dường như cũng chính là bóng hình cô giáo tương lai Kim Hợp - người đã chiếm vị trí đặc biệt trong trái tim chiến sĩ trẻ Hoàng Minh Chính.

Cô Cù Thị Kim Hợp, người con gái trong thơ Hoàng Minh Chính (ảnh chụp năm 2011). Ảnh: qdnd.vn
Xếp bút nghiên, gửi lại lời hẹn ước
Ký ức tuổi thơ của Hoàng Minh Chính không chỉ có màu xanh của đồi cọ, mà còn in hằn vết thương chiến tranh. Đêm lạc mẹ trong rừng khi chạy giặc Pháp, chứng kiến tận mắt cảnh quân thù đốt phá làng mạc, bắn giết vô tội vạ đã hun đúc trong lòng người thanh niên trẻ một chí khí sắt đá và lòng căm thù giặc sâu sắc.
Cuối năm 1963, khi đất nước bước vào giai đoạn chiến tranh gay go, Hoàng Minh Chính đang chuẩn bị lên lớp 10. Gạt qua một bên những hoài vọng văn chương và tình cảm đầu đời ấp ủ, chàng thanh niên 17 tuổi đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ.
Mẹ Lê Thị Oanh kể lại: "Buổi sáng trước ngày ra trận, Chính vẫn bình thản ra đồng cuốc ruộng giúp mẹ. Con nói với cán bộ xã: "Trưa mới đi mà! Để tôi cuốc nốt thửa ruộng cho mẹ rồi lên đường vẫn chưa muộn"".
Chuyện đi đánh giặc gian khổ, hy sinh là thế, nhưng qua góc nhìn của anh lại nhẹ nhàng như đi làm đồng.
Trước giờ chia tay, Hoàng Minh Chính mang 3 cây vải nhỏ do một người bạn tặng về trồng ở góc vườn nhà. Anh nắm tay mẹ và các em, nhắn nhủ rằng hãy chăm sóc cây, chờ ngày anh chiến thắng trở về hái quả. Lần tiễn con ấy của mẹ Lê Thị Oanh và ánh mắt dõi theo anh trai của em trai Hoàng Quốc Vinh đã trở thành kỷ niệm thiêng liêng, đăm đắm theo suốt chiều dài cuộc đời người ở lại.

Mẹ Lê Thị Oanh cùng con trai Hoàng Quốc Vinh (em trai liệt sĩ Hoàng Minh Chính) bên gốc vải mà nhà thơ trồng trước lúc lên đường nhập ngũ (ảnh chụp năm 2011). Ảnh: qdnd.vn
Nhập ngũ vào Sư đoàn 312, Hoàng Minh Chính tham gia chiến đấu khắp các chiến trường gian khổ từ Bắc Quảng Trị, Đường 9 Nam Lào đến miền Đông Nam Bộ và chiến trường Campuchia. Trải qua nhiều đơn vị, tháng 10-1968, đồng chí Hoàng Minh Chính được điều về làm Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 138 (chiến đấu ở B5), sau đó chuyển sang làm Đại đội trưởng Đại đội 13, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3, Sư đoàn 5. Ở vị trí nào, người chỉ huy trẻ ấy cũng thể hiện sự dũng cảm, mưu trí và tác phong sâu sát, yêu thương đồng đội.
Ông Lê Quốc Chính, người đồng đội thân thiết từng chiến đấu bên đồng chí Hoàng Minh Chính ở Trung đoàn 138 nhớ lại: "Anh Chính sống rất tình cảm, luôn gần gũi, đồng cam cộng khổ với anh em. Giữa nơi mưa bom bão đạn, anh vẫn giữ trọn tâm hồn lãng mạn".
Sau những giờ phút chiến đấu căng thẳng, người đại đội trưởng ấy lại ôm cây đàn guitar, cất tiếng hát hay đọc những bài thơ mới viết cho đồng đội nghe. Những bài thơ như “Cô gái lái đò trên sông Cam Lộ” ra đời giữa khói lửa, đã tiếp thêm sức mạnh, tinh thần lạc quan cho biết bao chiến sĩ: “Lên bờ anh ra trận/ Em đăm đăm nhìn theo/ Biết bao nhiêu mơ ước/ Gửi gắm trong tay chèo...”.
Nhưng đằng sau nụ cười rạng rỡ động viên đồng đội là những đêm trăng sáng, anh lặng lẽ ngồi một mình, gửi gắm nỗi nhớ quê nhà, nhớ "nàng thơ" Kim Hợp vào trang nhật ký chưa bao giờ gửi. Ông Lê Quốc Chính kể lại: "Nhiều lần, đồng đội trong đơn vị bày tỏ mơ ước của mình khi đất nước hòa bình, khi quay sang hỏi anh Hoàng Minh Chính: Sau này hòa bình anh sẽ làm gì? Anh nói: Hòa bình mình muốn trở thành thầy giáo để vừa dạy học, vừa được làm thơ. Thế nhưng ước nguyện ấy của anh đã không thành!".
Sống mãi với những vần thơ tuổi học trò
Mùa Xuân năm 1971, chiến trường Đông Bắc Campuchia diễn ra vô cùng ác liệt. Đơn vị của Hoàng Minh Chính nhận nhiệm vụ bao vây cô lập lực lượng địch tại thị trấn Snuol, tỉnh Kratie. Đêm 7-3-1971, Đại đội trưởng Hoàng Minh Chính trực tiếp dẫn đầu một tổ 11 đồng chí đi trinh sát nắm tình hình địch.
Sau khi trinh sát xong tình hình địch, trên đường rút quân ra đến bìa rừng cao su, tổ trinh sát bất ngờ bị địch phản pháo trúng vào giữa đội hình, hai đồng chí hy sinh tại chỗ. Hoàng Minh Chính bị thương nặng. Mặc dù đã được cấp cứu kịp thời, nhưng do vết thương quá nặng, anh đã hy sinh tại Trạm quân y Tiểu đoàn.

Ông Hoàng Quốc Vinh cùng tập thơ của anh trai mình - liệt sĩ Hoàng Minh Chính (ảnh chụp năm 2011). Ảnh: qdnd.vn
Hoàng Minh Chính hy sinh khi tuổi đời mới 25 - độ tuổi đẹp nhất của đời người, khi ước mơ trở thành một thầy giáo dạy Văn dâng hiến cho sự nghiệp trồng người sau ngày hòa bình vẫn còn dang dở. Anh nằm lại trên một quả đồi có nhiều cây bằng lăng và tre lồ ô ở nơi đất khách, mang theo những trang thơ, những bức thư tình chưa kịp gửi và lời hứa trở về hái vải cùng mẹ năm xưa.
Đã 55 năm trôi qua kể từ ngày nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính anh dũng ngã xuống. Chiến tranh đã lùi xa, đất nước đang trên đà vươn mình phát triển mạnh mẽ. Nơi quê nhà Phú Thọ, những đồi chè xanh ngát, những rừng cọ "xòe ô che nắng" vẫn rì rào trong gió thu, như vẫn đang ngóng đợi một ngày không xa được đón người con tài hoa trở về trong lòng đất mẹ yêu thương.
Ba cây vải anh trồng trước ngày ra trận năm nào, nay cũng đơm hoa kết trái. Dù nhà thơ không còn về để hưởng ngọt ngào, nhưng hương vị từ hoa trái quê nhà như vẫn quyện hòa cùng linh hồn anh nơi chiến trường xa.

Bài thơ "Đường về quê mẹ" của Hoàng Minh Chính. Ảnh qdnd.vn
Thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng những giá trị tinh thần mà nhà thơ, liệt sĩ Hoàng Minh Chính để lại cho đời luôn sống mãi. Mỗi dịp tựu trường, khi những vần thơ “Đi học” ngân vang trên khắp mọi miền Tổ quốc, thế hệ học sinh hôm nay lại càng thêm trân trọng giá trị của độc lập, tự do - những thành quả được đổi bằng xương máu của bao lớp cha anh đi trước.
Sự hy sinh của Hoàng Minh Chính và hàng triệu anh hùng liệt sĩ chính là điểm tựa tinh thần vững chắc để các thế hệ tương lai tiếp bước đến trường, nỗ lực học tập và rèn luyện, chung tay dựng xây đất nước Việt Nam ngày càng "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước.
