Mùa mành biển quê
Chiều xuống, mặt biển hừng lên màu đỏ ối, loang trên những chiếc thúng chai tróc nhựa nằm ngửa bụng bên mép sóng. Mùi tanh đặc quánh và hơi muối chát gắt quyện trong gió Nam. Tiếng gọi nhau oang oang bằng thứ giọng biển đặc sệt xứ Quảng: 'Đi mành ngài ơi!'. Với người dân vùng biển này, đó là tín hiệu quen thuộc báo mùa mành đã về.

Khoảng 5 giờ chiều, ngư dân chèo thúng ra ghe bắt đầu đi mành.
“Múi giờ” mùa mành
Cách biển Thống Nhất (phường Điện Bàn Đông, TP Đà Nẵng) chừng một cây số là xóm Biển Ghẻ. Không rõ lý do và từ bao giờ, bà con lại gọi nơi này bằng cái tên “xấu xí” như vậy. Không nổi tiếng như biển Cửa Đại đông nghịt khách du lịch mỗi mùa hè, cũng chẳng thơ mộng như An Bàng với những dãy homestay sáng đèn mỗi tối, biển quê tôi nhỏ hơn, lặng hơn và có phần “cũ” hơn. Hầu như hiếm khi có người ghé ngang hoặc dừng lại. Nhưng với cư dân xóm biển, nơi này là cả một nhịp sống gắn với “múi giờ” riêng – múi giờ của mùa mành.
“Mùa mành” là cách ngư dân miền Trung gọi mùa đánh bắt bằng lưới mành, đón những đàn cá nổi như cá cơm, cá nục, cá ve… áp sát vùng biển lộng. Theo ngư dân Trần Cường (53 tuổi), người có hơn 30 năm gắn bó với nghề, mùa mành thường bắt đầu từ khoảng tháng 2 đến tháng 8 âm lịch, khi gió Nam nổi đều và luồng cá vào gần bờ.Đó cũng là lúc cả xóm chài sống theo con nước. Những chiếc thúng chai bạc phếch được kéo sát mép sóng để đưa người ra những chiếc ghe lớn neo ngoài biển, cách bờ từ 2 đến 7 hải lý.
Hơn 40 năm đi biển, ngư dân Nguyễn Văn Lự (64 tuổi) thuộc lòng từng con nước, con trăng. Ông cho biết, mỗi chuyến ghe thường có tám, chín người cùng đi. Riêng những thợ câu mực độc hành, chiếc thúng tre chòng chành gần như là cả “giang sơn” mưu sinh.“Một tháng đi khoảng 20 ngày. Mấy hôm trăng sáng quá thì cá không vô”, ông Lự nói.
Nhìn người đi mành, nhiều khi biết nghề trước cả khi biết tên. Vai ngang bè, bàn tay đầy vết cước cứa, móng tay mòn vẹt, ngả màu vàng xám vì nước mặn và nhớt cá. Làn da sạm đen bởi nắng gió quanh năm.Dân biển “ăn to nói lớn”, quen với cảnh gọi nhau oang oang giữa mênh mông biển, như át cả tiếng sóng: “Nhanh lên ngài!”, “Mệ đưa thêm cái ki đây!”. Những cách xưng hô “ngài”, “mệ”, “cậu” gần gũi, có phần xuề xòa của dân biển xứ Quảng dành cho những người thân thuộc nơi đây bao đời.
Đi mành là nghề bám biển lộng, không đi quá xa nhưng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào gió, con nước và luồng cá. Ghe rời bến lúc chiều xuống, trở về khi trời gần sáng. Người ta ngủ thì dân biển thức.Ở nhà, những người vợ cũng chẳng khi nào ngủ yên. Chị Lâm Thị Nở chia sẻ: “Đi riết rồi thành quen nhưng vẫn lo. Hễ nghe gió lớn hay biển động là thấp thỏm. Ghe chưa vô bờ thì chưa yên tâm được”.
Những mùa cá bạc
Đêm xuống, những chiếc ghe mành sáng rực như dải đèn vàng chấp chới giữa mặt biển đen thẫm. Ánh sáng từ bình điện hắt xuống mặt nước, dụ từng đàn cá nổi kéo về ken đặc dưới ghe.Ngư dân Nguyễn Văn Trung (38 tuổi) cho biết,cá mùa mành rất “ham sáng”. Khi luồng cá lọt vào tầm lưới, cả ghe lập tức hối hả kéo mành. Xen giữa những mẻ cá là những giờ câu mực nháy bằng rường – loại mồi giả gắn lưỡi câu.Những đêm trúng mùa, cá cơm, cá nục, cá ve đầy khoang ghe, mực nháy chất kín thùng. Dưới ánh đèn, từng lớp cá ánh bạc lấp loáng giữa biển đêm - thứ thành quả mà ngư dân nơi đây vẫn gọi vui là “mùa bạc”.
Nhưng biển không phải lúc nào cũng hào phóng. Chỉ cần gió đổi hướng hoặc biển động vài ngày là coi như thất chuyến. Có người thức trắng đêm rồi trở về với vài sọt cá thưa thớt, mấy ki mực ít ỏi.“Nghề ni cực lắm. Có tháng kiếm được hai chục triệu đồng nhưng cũng có tháng chỉ bốn, năm triệu. Còn lại trông trời, nhờ biển”, ông Lự bộc bạch.

Hải sản được rửa sạch và phân loại vào ki ngay sau khi vào bờ.
Người đi mành “sợ bão chứ không sợ mưa”. Nhiều đêm mưa dầm, gió buốt họ vẫn ra khơi. Chỉ khi biển động mạnh hoặc có tin bão, ghe thúng mới nằm bờ. Nhắc đến bão, ông Lự nhớ lại cơn bão Chanchu năm 2006: “Hồi đó dự báo chưa chính xác như bây giờ. Nghe tin có gió là cả làng kéo thúng lên bờ, chạy ghe xuống Cửa Đại tránh bão”.Dù công nghệ dự báo thời tiết ngày càng hiện đại, nỗi lo của người đi biển chưa bao giờ vơi. “Ở ngoài biển đêm mà gặp gió lớn, cả ghe nín thinh. Ai cũng chỉ mong gió ngớt, biển êm để còn quay về”, ông nói.
Những năm gần đây, biển không còn hào phóng như trước. Cá ít dần, luồng cá cũng thưa hơn. “Ngày xưa cực hơn nhưng dễ sống hơn. Giờ phương tiện hiện đại, biển bị khai thác nhiều nên nguồn lợi cũng giảm đi”, ông Lự trầm ngâm. Hơn 40 năm “ăn dầm nằm dề” với biển, con cái đã lớn, ông Lự cũng có lúc nghĩ tới chuyện nghỉ ngơi. Thế nhưng mỗi mùa gió Nam trở lại, ông vẫn cùng bạn nghề lên ghe ra khơi.Với những ngư dân xóm biển Ghẻ, biển không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là một phần máu thịt. Bởi vậy họ vẫn thức cùng con nước, vẫn đợi những luồng cá bạc dưới ánh đèn mành, vẫn gọi nhau oang oang bên mép sóng và lặng lẽ rời bãi biển mỗi chiều xuống.Để những người đàn bà ngồi chờ ghe về từ mỗi sớm tinh mơ…
Chia tay những ngư dân, tôi nán lại bên mép sóng, hít một hơi thật sâu cái mùi tanh nồng và vị mặn của biển – thứ mùi ngày nhỏ từng khiến tôi nhăn mặt. Ngoài khơi, những chiếc ghe bắt đầu lên đèn. Trên bãi cát, những chiếc thúng chai nằm nghiêng trong gió.Chút nữa thôi, chúng lại rẽ sóng ra khơi, tiếp tục những hành trình quen thuộc từ mùa mành này sang mùa mành khác. Và đâu đó phía sau những ánh đèn ngoài biển đêm, vẫn có những người đàn bà lặng lẽ đợi ghe về mỗi sớm tinh mơ.
Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/mua-manh-bien-que-post342831.html











