Mùa sâu ăn lá
Những con sâu màu vàng xanh ngoe nguẩy bám kín thân cây muồng đen. Bạn tôi nói, thứ 'lộc trời' này chỉ ghé qua vùng cao độ dăm ba tuần cuối tháng Ba, đầu tháng Tư hằng năm. Đến mùa, người trong làng rủ nhau lên núi bắt sâu, mang về chế biến thành những món ăn béo bùi, đậm hương núi rừng.

Dưới tán cây muồng đen, những người dân Cơ Tu cần mẫn "săn" sâu muồng. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Lên núi “săn” sâu
Nắng hắt lên từ mái gươl. Sau cuộc hẹn, ông Alăng Nét, người làng Bhlô Bền (xã Sông Kôn) mang theo chiếc gùi, con dao nhỏ, chuẩn bị ngược núi. Men theo lối mòn đất đỏ, chúng tôi tìm đến những gốc muồng cổ thụ, nơi loài sâu rừng có tên “Ađhoop” được đồng bào Cơ Tu ví như “tôm núi”, đang vào mùa.
Đường lên dốc đứng, nắng gắt như lửa thiêu. Ông Alăng Nét đi trước dẫn đường, thoăn thoắt như đã thuộc từng gốc cây, từng khe đá. “Ađhoop thường bò từng đàn lên thân ăn lá vào buổi sáng sớm. Đến quá trưa thì no, tụ lại phía dưới, bám vào cành thấp để làm kén”, ông Alăng Nét nói, tay chỉ về những tán muồng đung đưa trong gió.
Dưới tán cây, từng chùm sâu non bám dày đặc. Loài sâu muồng có khả năng biến hình theo vòng đời ngay trên tán lá. Kén xanh xuất hiện ở lá tươi, kén nâu bám vào lá khô, ngả màu. Thân kén căng bóng lẫn vào màu lá, chỉ cần khẽ lật tán lá là có thể phát hiện. Người đi rừng chỉ việc nhanh tay bắt từng con, bỏ vào giỏ mang về.

Bà Alăng Thị Má lật lá tìm kén sâu muồng. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Sâu muồng đang ở cuối mùa. Ông Alăng Nét kể, có ngày chỉ sau một giờ đồng hồ đã đầy giỏ. Nhưng không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có những cánh rừng đã có người đến trước, gần như không còn dấu vết. Chúng tôi dừng chân nơi khoảnh muồng đen trước mặt. Lá đã thưa, nhiều cành trơ trụi sau mùa sâu đi qua. Trời ngả về chiều. Ông Alăng Nét đặt gùi xuống, chờ thêm một nhịp rừng.
Rồi những con sâu đen bóng bắt đầu di chuyển, lũ lượt rời thân cây, bò dần xuống gốc. Chúng tôi cần mẫn đón bắt, bỏ vào giỏ mây đã chuẩn bị sẵn, trước khi chúng kịp ẩn nấp dưới tán lá để chuyển sang vòng đời mới. “Phải đi đúng lúc thì mới bắt được nhiều sâu. Kinh nghiệm là quan trọng nhất, trễ vài ngày là hết mùa, kén già hóa bướm bay đi hết”, ông Alăng Nét cười hiền.
Vừa bắt sâu, bà Alăng Thị Má tiếp lời ông Nét, khẳng định chỉ vài ngày nữa, cả cánh rừng này sẽ chỉ còn màu xanh của lá và những cánh bướm vàng lượn dưới chân núi.

Kén sâu muồng béo mộng, sau vài ngày tắm nắng sẽ chuyển hóa thành con bướm. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Từ khi mùa sâu muồng bắt đầu, những người phụ nữ Cơ Tu ở Bhlô Bền như bà Alăng Thị Má, bà Alăng Thị Bhóo vẫn đều đặn ngược núi tìm sâu. Sâu bắt về ngoài cải thiện bữa ăn còn được bán cho tiểu thương trong vùng. Bởi vậy, khi sâu rời lá, hóa kén rồi thành bướm, cũng là lúc họ biết mùa “lộc rừng” khép dần.
Đặc ân của rừng
Hôm nọ, tôi ngồi với ông Pơloong Plênh, Phó trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Tây Giang. Ông nói, người Cơ Tu không xem sâu muồng là món ăn đơn thuần. Với họ, đó là lộc rừng, chỉ xuất hiện đúng thời khắc, đúng nhịp núi. Hằng năm, khi cây muồng vừa đâm chồi non, đàn sâu kéo về như một tín hiệu báo mùa. Chúng bám lên tán lá, ăn rộ rồi bước vào chu kỳ quen thuộc, trước khi hóa thân thành những con bướm trắng.
Nhưng không phải vùng nào cũng có sâu muồng. Ở một số nơi thuộc huyện Tây Giang cũ, đến nay vẫn chưa từng xuất hiện loài sâu ăn lá (Ađhoop). Nguyên nhân không nằm ở độ giàu nghèo của rừng, mà ở chỗ vùng đất ấy rất hiếm cây gỗ họ muồng, loài cây gắn với vòng đời của sâu. Từ đặc tính tự nhiên đó, người Cơ Tu dần hình thành cách ứng xử riêng với rừng.

Đĩa sâu muồng xào truyền thống trở thành thực đơn được khách hàng ưa chuộng. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Là bởi, người đi rừng hiểu rằng không phải năm nào cũng có nhiều sâu, không phải gốc cây nào cũng có kén mộng. Vì vậy, họ chỉ bắt vừa đủ, để phần cho sâu muồng tiếp tục sinh sôi vào mùa sau. “Những sản vật như sâu muồng phản ánh rõ cách người Cơ Tu ứng xử với rừng. Họ sống dựa vào rừng nhưng luôn giữ nhịp khai thác vừa phải, để rừng có thời gian hồi phục”, ông Pơloong Plênh nói.
Ở nhiều vùng người Cơ Tu, sau khi bắt về, sâu muồng thường được giữ theo cách riêng. Họ cho vào bao hoặc gùi, kèm vài lá muồng tươi rồi buộc kín lại. Trong khoảng không khép lại ấy, sâu tiếp tục quá trình biến đổi tự nhiên, bám vào lá, co mình và chuyển sang làm kén. Gần hai ngày sau, khi mở ra, bên trong không còn loài sâu bò nhúc nhích, thay vào đó là những kén xanh non bám trên lá cây khô héo.

Sâu muồng, sản vật của núi rừng gắn kết tình người Cơ Tu. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Câu chuyện ấy làm tôi nhớ đến cha mình. Hồi đó cha tôi còn khỏe, cứ qua Giêng, Hai, trời núi bắt đầu oi ả, ông lại lục đục chuẩn bị đi săn sâu muồng. Không cần hẹn trước, chỉ nhìn màu lá muồng phía núi đổi sắc là ông biết mùa sâu đã về. Sáng sớm, ông khoác gùi lên vai, lặng lẽ vào rừng như thói quen nhiều năm.
Ngày đó sâu nhiều. Chỉ vài giờ men theo triền núi, giỏ trên tay đã đầy ắp. Sâu bám kín cành thấp, bắt đến đâu được đến đó. Nhưng cha tôi không bao giờ lấy hết. Khi được khoảng nửa gùi, ông dừng lại, quay về như một cách giữ lại phần lộc cho rừng. Sâu mang về, cha đun nước sôi, luộc đi luộc lại cho trôi nhựa và mùi lá rừng. Khi nước trong, vớt ra, để ráo rồi đem phơi.
Dưới nắng, những con sâu vàng ươm se lại, cất dần hương vị núi rừng trong từng lớp thân nhỏ. Sau khi sơ chế, cha đem chiên giòn hoặc xào nhanh trên chảo lửa. Chảo nóng, từng con sâu căng mình, chuyển vàng ruộm. Tiếng lách tách khẽ vang lên, chỉ ít phút sau đã chín đều, cả gian bếp dậy mùi thơm đặc trưng. Không cần nêm nếm cầu kỳ, bởi vị nguyên sơ đã nằm sẵn bên trong sâu muồng.

Loài bướm trắng được hình thành từ loài sâu muồng. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Cha tôi nói, sâu muồng ngon nhất vào dịp đúng mùa, thường cuối tháng Ba. Khi ấy sâu non vừa vỗ béo. Qua thời gian, sâu già đi, vị không còn bùi, ăn nhạt hơn. Với sâu muồng, hương vị cũng ngắn ngủi như vòng đời của nó. Có năm sâu nhiều, cha tôi chọn thêm thịt gác bếp, vài món hong khói rồi gói lại mang biếu người thân. Khi thì bên ngoại, lúc anh em họ hàng. Món quà không lớn nhưng chất chứa tình cảm, công sức một buổi lên rừng.
Với cha tôi, đó là mùa của thức ăn và cũng là mùa của sẻ chia, của nguồn cội.
* * *
Một lần, tôi ghé KaTu quán của người bạn tên Alăng Beo ở xã Sông Kôn. Từ dưới bếp, chủ nhà mang ra món sâu muồng mời khách. Những ngày vào mùa, theo Alăng Beo, anh thu mua sâu muồng từ người dân trong làng rồi đưa vào chế biến, đưa vào thực đơn như một món ăn theo mùa phục vụ thực khách. “Tại quán, giá dao động khoảng 200.000 - 300.000 đồng/kg, tùy thời điểm. Khách đến quán nhiều người gọi ăn thử để biết vị sâu rừng”, Alăng Beo chia sẻ.

Cuối mùa sâu muồng, khắp tuyến đường vùng cao xuất hiện đàn bướm trắng. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Từ bếp lửa trong những ngôi nhà vùng cao ngày cũ, sâu muồng đi ra khỏi bữa ăn truyền thống, trở thành món theo mùa trong thực đơn một số quán ăn địa phương…
Quý nhau tặng chén… sâu muồng
Cho đến nay, người Cơ Tu vẫn giữ nếp sống cộng đồng bền chặt. Mỗi khi săn được con chim, con sóc hay bắt được cá suối, họ đều để dành một phần mang sang biếu họ hàng, xóm giềng. Sâu muồng, sâu tre, sùng đất - những sản vật của núi rừng Trường Sơn được xem như món quà quý, gửi gắm tình cảm chân thành giữa cộng đồng.
Mùa sâu muồng, bên trong chiếc gùi đi thăm thân theo tục Tr’záo của đồng bào Cơ Tu thường có thêm món ăn truyền thống được chế biến từ loài Ađhoop.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mua-sau-an-la-3334298.html











