Mùa thu lịch sử - Khát vọng vươn mình

Tối 15-8, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện chương trình “Hà Nội chuyển động” với chủ đề “Mùa thu lịch sử - Khát vọng vươn mình”.

Cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 19-8-1945. Ảnh tư liệu

Cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 19-8-1945. Ảnh tư liệu

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội đã giành thắng lợi trọn vẹn trong thời gian ngắn. Sự kiện lịch sử ấy không chỉ mở ra một trang mới cho dân tộc, mà còn khẳng định bản lĩnh, sức mạnh và tinh thần quật cường của quân và dân ta.

81 năm đã trôi qua, Hà Nội hôm nay đã có những đổi thay vượt bậc, song những giá trị nền tảng được xác lập từ mùa thu năm ấy, về độc lập dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, vẫn luôn là mạch nguồn cuộn chảy, nâng bước Thủ đô trên hành trình vươn mình phát triển.

Mở đầu chuỗi hoạt động kỷ niệm mùa thu lịch sử, chương trình “Hà Nội chuyển động” cùng khán giả ngược dòng thời gian, tìm về những ký ức không thể nào quên; đồng thời nhận diện cách Hà Nội kế thừa, phát huy tinh thần ấy trong thời đại mới.

Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

Tham gia Chương trình tại Trường quay S1, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Chương trình cũng kết nối với điểm cầu tại nhà riêng của nhạc sĩ Doãn Nho - một trong những tên tuổi lớn của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, tác giả của nhiều ca khúc đã đi cùng năm tháng như “Tiến bước dưới quân kỳ”, “Người con gái sông La”... Đặc biệt, ông là một trong những nhân chứng từng chứng kiến những thời khắc lịch sử vào tháng Tám năm 1945 tại Hà Nội.

“Thần kỳ” Cách mạng Tháng Tám: Sức dân, khát vọng độc lập và nghệ thuật chớp thời cơ

Mở đầu Chương trình là những thước phim ghi lại ký ức không thể phai mờ về những ngày mùa thu lịch sử, qua lời kể của cụ Nguyễn Tiến Hà, một trong những thành viên đầu tiên của Đội Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu.

81 năm trôi qua, ký ức về những ngày sục sôi Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 vẫn vẹn nguyên trong tâm trí cụ, như thước phim sống động của một thời không thể nào quên. Ở tuổi 99, cụ là một trong số ít nhân chứng còn lại của mùa thu lịch sử ấy.

81 mùa thu đã qua, nhưng tinh thần Cách mạng Tháng Tám vẫn tiếp nối, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng ý chí của các thế hệ người Hà Nội hôm nay, trên hành trình dựng xây Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại.

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

Qua những chia sẻ chân thực từ một nhân chứng lịch sử ở tuổi 99, dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu lịch sử, nhìn lại thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, có thể dùng một từ ngắn gọn để khái quát: “Thần kỳ”. Đó không chỉ là cảm nhận của thế hệ hôm nay mà còn là ký ức có thật của những người từng trực tiếp trải qua những năm tháng lịch sử đặc biệt ấy.

Chia sẻ về những lần gặp các cựu tù chính trị tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò, TS Nguyễn Viết Chức cho biết, câu chuyện của các nhân chứng lịch sử là nguồn cảm hứng để thế hệ sau tiếp tục gìn giữ, truyền lại ký ức về một thời kỳ không thể nào quên.

Theo TS Nguyễn Viết Chức, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong bối cảnh vô cùng khó khăn. Lực lượng cách mạng còn nhỏ, vũ khí hạn chế, trong khi tình hình chính trị, quân sự hết sức phức tạp. Hình ảnh "ngàn cân treo sợi tóc" phần nào cho thấy những thử thách mà cách mạng Việt Nam phải đối mặt.

"Lực lượng lúc bấy giờ rất nhỏ, vũ khí không thể so sánh với đối phương, trong khi tình hình chính trị vô cùng phức tạp. Nhưng thắng lợi là có thật. Không có thắng lợi đó thì không có chúng ta ngày hôm nay", TS Nguyễn Viết Chức nhấn mạnh.

Qua nghiên cứu, TS Nguyễn Viết Chức cũng cho biết, một trong những yếu tố quan trọng tạo nên thắng lợi là khát vọng độc lập, tự do của toàn Đảng, toàn dân. Cùng với đó là đường lối đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là chủ trương dựa vào sức dân, tập hợp lực lượng và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Việc thành lập Việt Minh, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân tham gia cách mạng đã tạo nên một lực lượng rộng lớn. Tinh thần mỗi người dân đều có thể đóng góp sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc đã trở thành nguồn sức mạnh quan trọng của cách mạng.

"Khát vọng độc lập, tự do của nhân dân; sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; việc dựa vào sức dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân và chủ động chuẩn bị lực lượng để chớp thời cơ đã tạo nên sức mạnh đặc biệt", TS Nguyễn Viết Chức phân tích.

Bên cạnh sức mạnh chính trị và quân sự, TS Nguyễn Viết Chức đặc biệt nhấn mạnh vai trò của sức mạnh văn hóa. Theo đó, văn hóa không chỉ là sức mạnh mềm mà còn có khả năng tạo nên sự đồng thuận, hun đúc tinh thần dân tộc và biến khát vọng độc lập, tự do thành hành động cách mạng.

Sức mạnh làm nên thắng lợi nhanh chóng của Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội

Theo TS Nguyễn Viết Chức, sức mạnh làm nên thắng lợi nhanh chóng của Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội trước hết bắt nguồn từ khát vọng độc lập, tự do được hun đúc, dồn nén qua nhiều năm trong mỗi người dân Việt Nam. Đó là khát vọng bất diệt của dân tộc, dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào cũng không thể bị dập tắt.

“Thứ nhất, đó là niềm khát khao, mơ ước giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi cầm trong tay Luận cương của Lênin đã vô cùng hạnh phúc, xúc động. Bác là biểu tượng của tất cả những người Việt Nam khát khao hòa bình, khát khao độc lập, tự do”, TS Nguyễn Viết Chức nói.

TS Nguyễn Viết Chức trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

TS Nguyễn Viết Chức trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải

Theo TS Nguyễn Viết Chức, khát vọng ấy đã được hun đúc qua nhiều thế hệ. “Dù lúc này, lúc khác có thể khó khăn, nhưng tinh thần dân tộc về độc lập, tự do vẫn bất diệt. Lúc bấy giờ, đất nước còn nghèo đói lắm, nhưng tinh thần ấy luôn sục sôi. Đây có thể nói là nguyên nhân sâu xa nhất tạo ra sức mạnh”, TS Nguyễn Viết Chức nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, TS Nguyễn Viết Chức cho rằng, năm 1945, 15 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã tạo nên một quá trình tích lũy kinh nghiệm đấu tranh. “Chúng ta chọn cái đúng, chọn cái tốt đẹp, chọn chân lý, chọn lẽ phải. Chính con đường đúng đắn ấy tạo ra một sức mạnh tiềm ẩn mà các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng không hình dung ra được, thậm chí chúng tôi và những nhà nghiên cứu tiền bối cũng không thể phân tích hết”, TS Nguyễn Viết Chức nói.

Theo TS Nguyễn Viết Chức, có thể dùng những từ như “thần kỳ” để nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhưng phía sau đó không có điều gì thần bí, mà chính là sức mạnh của toàn dân. Nhân dân đã có sự chuẩn bị về mọi phương tiện, cách thức và điều kiện để khi thời cơ đến có thể đồng loạt đứng lên.

TS Nguyễn Viết Chức cũng lưu ý, thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội có ý nghĩa quyết định nhưng không diễn ra đơn độc. “Cách mạng Tháng Tám ở Hà Nội nổ ra không đơn độc. Các địa phương đều lần lượt thành công, cùng một cách thức là nhân dân xuống đường”, ông nói. Đồng thời nhấn mạnh một điểm đặc biệt là cuộc Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội đã giành thắng lợi mà không đổ máu.

Từ đó, TS Nguyễn Viết Chức liên hệ với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong những trận đánh sau này, thắng lợi lớn, Bác thường hỏi có hy sinh nhiều không. Thắng lợi phải là thắng lợi nhưng phải ít đổ máu. Tư tưởng ấy rất lớn, rất nhân văn”.

Theo TS Nguyễn Viết Chức, tư tưởng ấy được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, qua đó càng thấy rõ tầm vóc và tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời khắc lịch sử.

Nhân chứng sống - những ký ức không thể thay thế trong dòng chảy lịch sử

Theo TS Nguyễn Viết Chức, những nhân chứng như cụ Nguyễn Tiến Hà không chỉ có giá trị trong việc cung cấp tư liệu chân thực cho công tác nghiên cứu, lưu giữ lịch sử, mà còn góp phần truyền cảm hứng, bồi đắp lý tưởng và ý chí cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

“Nhân chứng sống là những con người ở trong cuộc, còn như chúng tôi chỉ là những người nghiên cứu thôi”, TS Nguyễn Viết Chức chia sẻ.

Theo ông, với những người trực tiếp sống, chiến đấu và trải qua những thời khắc lịch sử, mỗi câu chuyện, mỗi ký ức được kể lại đều mang trong đó những cảm xúc, trải nghiệm và sự thật mà sách vở khó có thể phản ánh đầy đủ. Những nhân chứng như cụ Nguyễn Tiến Hà và nhiều người ông từng gặp chính là những “bài học sống”, giúp người nghiên cứu có thêm một chiều sâu khác khi tiếp cận lịch sử.

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

TS Nguyễn Viết Chức dẫn lại câu chuyện ông mới được nghe từ một nữ nhân chứng 95 tuổi. Bà từng hoạt động bí mật trong lực lượng Công an nhân dân, bị địch bắt và tra tấn trong thời kỳ cách mạng.

“Cụ nói rất vui thôi: Theo cách mạng là những bài hát cách mạng đã đưa vào tâm hồn tôi. Và tôi muốn đóng góp sức lực của mình để tìm đến độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân, chỉ biết có thế thôi. Hy sinh gian khổ bao nhiêu cũng vào hết”, TS Nguyễn Viết Chức kể.

Theo ông, giá trị lớn nhất của nhân chứng lịch sử nằm ở chính những sự thật sống động ấy. Một cuốn sách có thể ghi lại sự kiện, mốc thời gian, diễn biến của một cuộc đấu tranh, nhưng ký ức của người từng trực tiếp trải qua có thể giúp hậu thế cảm nhận rõ hơn cái giá của độc lập, tự do.

Bởi vậy, việc gặp gỡ, ghi chép, lưu giữ ký ức của những nhân chứng lịch sử càng trở nên cấp thiết khi thời gian ngày càng lùi xa. Mỗi nhân chứng là một “kho tư liệu sống”, chứa đựng không chỉ thông tin về sự kiện mà còn có cả tâm thế, tình cảm, niềm tin và những lựa chọn của con người trong những hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử.

Đáng chú ý, với TS Nguyễn Viết Chức, những cuộc gặp như vậy không chỉ phục vụ công việc nghiên cứu. Những câu chuyện của nhân chứng còn tác động trực tiếp đến chính những người đang làm công tác văn hóa, lịch sử và giáo dục truyền thống.

Từ những câu chuyện của thế hệ đi trước, các thế hệ hôm nay có thể hiểu sâu sắc hơn rằng những thành quả của hiện tại không phải tự nhiên mà có. Đằng sau độc lập, tự do và cuộc sống hòa bình là sự hy sinh của biết bao con người, trong đó có những người đã dành cả tuổi trẻ, thậm chí cả tính mạng, cho lý tưởng mà họ tin tưởng.

“Và có lẽ nó còn truyền sâu hơn đến những thế hệ sau rằng có được ngày hôm nay là chính nhờ tấm lòng cũng như ý chí kiên cường của các thế hệ đi trước”, TS Nguyễn Viết Chức nói.

Những ký ức không phai về mùa thu năm 1945

Chương trình “Hà Nội chuyển động” đã kết nối với điểm cầu tại nhà riêng của nhạc sĩ Doãn Nho - một trong những tên tuổi lớn của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, tác giả nhiều ca khúc đã đi cùng năm tháng như “Tiến bước dưới quân kỳ”, “Người con gái sông La”... Đặc biệt, ông là một trong những nhân chứng từng chứng kiến những thời khắc lịch sử vào tháng Tám năm 1945 tại Hà Nội.

Nhớ lại những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhạc sĩ Doãn Nho cho biết, khi đó ông mới 12 tuổi nhưng đã tham gia làm liên lạc cho tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc Thành Hoàng Diệu. Những ngày tháng sục sôi ấy để lại trong ông những ký ức sâu đậm suốt cuộc đời.

Theo nhạc sĩ Doãn Nho, không khí những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong ký ức của ông là không khí sục sôi, tràn đầy niềm vui và khí thế của nhân dân khi đứng lên giành chính quyền. Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất với ông là ngày 2-9-1945, khi được chứng kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

“Kỷ niệm sâu sắc với tôi nhất là được đứng ngay gần lễ đài ở Quảng trường Ba Đình và nhìn lên thấy Bác Hồ. Bà con mình trong tay có những lá cờ đỏ sao vàng nho nhỏ. Tất cả hàng vạn người cầm lá cờ đỏ sao vàng lên vẫy, đúng với tư thế của những người làm chủ đất nước. Khi ấy, tôi chưa thể hiểu hết ý nghĩa lịch sử của thời khắc trọng đại, nhưng tôi nhớ mình đã đánh trống để hòa cùng niềm vui của mọi người”, nhạc sĩ Doãn Nho nhớ lại.

Những trải nghiệm của mùa thu cách mạng cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến con đường sáng tác của nhạc sĩ Doãn Nho sau này. Năm 17 tuổi, ông nhập ngũ và theo học Trường Sĩ quan Lục quân. Do chưa đủ tuổi nhập ngũ, ông phải khai tăng thêm một tuổi.

Tại trường, biết ông có năng khiếu âm nhạc, đồng chí chính trị viên đại đội đã phân công ông viết một bài hát về tăng gia sản xuất. Từ đó, ông sáng tác bài “Đào than” với những câu hát cổ vũ tinh thần lao động, thi đua của người lính.

Theo nhạc sĩ, đơn vị đóng ở vùng than nên không thể tăng gia bằng trồng trọt mà khai thác than là hình thức phù hợp. Bài hát ra đời từ chính cuộc sống thực tế của người lính.

Một sáng tác khác cũng bắt nguồn từ những rung động rất chân thành của người lính trẻ. “Năm 17 tuổi, tôi nhớ mẹ lắm, đêm nằm trùm kín chăn khóc. Các bà mẹ ở địa phương rất quý chúng tôi, thấy chúng tôi tập luyện thao trường vất vả thì hằng ngày đem nước cho chúng tôi uống. Tôi xúc động lắm và viết ngay”, nhạc sĩ Doãn Nho kể.

Từ những kỷ niệm tuổi thơ trong mùa thu cách mạng đến những năm tháng quân ngũ, những cảm xúc chân thành về đất nước, người mẹ và người lính đã trở thành nguồn cảm hứng quan trọng trong sáng tác của nhạc sĩ.

Ký ức lịch sử được nghệ thuật hóa sẽ tiếp tục sống trong nhiều thế hệ

Không chỉ là một nhân chứng lịch sử, nhạc sĩ Doãn Nho còn là người đã chuyển hóa ký ức mùa thu năm ấy thành những tác phẩm âm nhạc sống mãi với nhiều thế hệ. TS Nguyễn Viết Chức cho rằng thế hệ hôm nay cần trân trọng và biết ơn những người đi trước, bởi chính họ không chỉ chứng kiến lịch sử mà còn góp phần truyền lại những giá trị của lịch sử bằng nghệ thuật.

Nhắc lại cuộc gặp với nhạc sĩ Doãn Nho vào năm 1966, trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ngày càng quyết liệt, TS Nguyễn Viết Chức cho biết, nhạc sĩ Doãn Nho đã trở thành một người thầy, truyền cảm hứng và có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình công tác của ông sau này.

"Đó không chỉ là những nốt nhạc, mà còn là tấm gương của một nhân chứng lịch sử. Những điều ấy dường như đã ngấm vào mình và trở thành một bài học mà người thầy để lại", TS Nguyễn Viết Chức chia sẻ.

Theo TS Nguyễn Viết Chức, giá trị của những nhân chứng lịch sử còn nằm ở khả năng chuyển hóa ký ức thành các tác phẩm nghệ thuật. Những câu chuyện, cảm xúc, trải nghiệm của một thời kỳ lịch sử khi được thể hiện qua âm nhạc, văn học, hội họa hay các loại hình nghệ thuật khác sẽ có sức lan tỏa rộng hơn, giúp lịch sử đến gần công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Chính sự kết nối giữa nhân chứng, ký ức lịch sử và sáng tạo nghệ thuật giúp những tác phẩm ra đời từ những năm tháng đặc biệt không bị giới hạn trong thời điểm chúng xuất hiện, mà tiếp tục sống trong đời sống tinh thần của nhiều thế hệ. Đây cũng là cách để những giá trị của lịch sử được truyền lại một cách tự nhiên, giàu cảm xúc, giúp thế hệ hôm nay không chỉ biết về lịch sử mà còn có thể cảm nhận sâu sắc hơn những con người và khát vọng đã làm nên lịch sử.

TS Nguyễn Viết Chức

Tác phẩm nghệ thuật được sinh ra từ ký ức lịch sử sẽ sống mãi
Theo TS Nguyễn Viết Chức, sức sống lâu bền của những tác phẩm nghệ thuật ra đời từ những năm tháng lịch sử trước hết đến từ tài năng của người nghệ sĩ, nhưng sâu xa hơn là sức lay động của chính hiện thực lịch sử.

Nhắc tới nhạc sĩ Doãn Nho và những tác phẩm được sáng tác từ những năm tháng chiến tranh, TS Nguyễn Viết Chức cho rằng, tài năng của người nghệ sĩ là yếu tố quan trọng để chuyển hóa những trải nghiệm, ký ức thành tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, nếu không có sức tác động mạnh mẽ của hiện thực, những sáng tạo ấy khó có thể đạt tới sức sống lâu bền.

“Hiện thực tác động vào tâm hồn và như một sức sống truyền cảm hứng cho chính nhạc sĩ. Từ đó, tác phẩm được sinh ra, được ra đời và sống mãi đến tận ngày hôm nay”, ông nói.

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chia sẻ tại trường quay. Ảnh: Thanh Hải

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chia sẻ tại trường quay. Ảnh: Thanh Hải

Theo TS Nguyễn Viết Chức, điều đó có thể thấy rõ qua trường hợp nhạc sĩ Doãn Nho. Những ký ức, trải nghiệm của ông trong những năm tháng lịch sử đã được chuyển hóa thành âm nhạc, để rồi vượt qua giới hạn của thời gian, trở thành những giai điệu được nhiều thế hệ tiếp tục đón nhận.

Ông nhấn mạnh, âm nhạc cũng như văn hóa luôn gắn với con người và thời đại đã sản sinh ra nó. “Văn là người, âm nhạc là người”, bởi vậy, khi tác phẩm được hình thành từ những rung động chân thành trước lịch sử và cuộc sống, sẽ mang trong mình sức sống của chính những con người, sự kiện và giá trị mà nó phản ánh.

“Âm nhạc nảy sinh trong chính giai điệu của cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng ấy sống mãi thì giai điệu âm nhạc ấy cũng sống mãi”, TS Nguyễn Viết Chức khẳng định.

Mạch nguồn cách mạng được tiếp nối qua các thế hệ

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ảnh: Thanh Hải

Nói về điều làm nên giá trị trường tồn của tinh thần Cách mạng Tháng Tám, để sau 81 năm, tinh thần ấy vẫn sống động trong đời sống hôm nay, TS Nguyễn Viết Chức khẳng định đó là sự tiếp nối giữa các thế hệ. Trong những năm kháng chiến, chúng ta từng nói: “Lớp cha trước, lớp con sau/Đã thành đồng chí, chung câu quân hành”. Nếu nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, có thể thấy các thế hệ người Việt Nam luôn nối tiếp nhau như vậy.

Từ phá Tống, bình Nguyên, chống Minh đến kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc ta đã kiên cường chống lại mọi thế lực xâm lược; dù khó khăn đến đâu cũng quyết tâm vượt qua. Tinh thần ấy được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và luôn sống mãi.

Trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, dân tộc Việt Nam luôn có ý chí vươn lên; mạch nguồn ấy chưa bao giờ tắt. Chính truyền thống đó đã bồi đắp và đem lại cho chúng ta niềm tin trong ngày hôm nay.

Tiếp tục cập nhật...

Nhóm phóng viên

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/mua-thu-lich-su-khat-vong-vuon-minh-1216691.html