Muốn giữ người giỏi phải có chính sách vượt khung
Trong cuộc đua làm chủ trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học… lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực hơn là tài nguyên thiên nhiên. Những đề xuất về cơ chế đãi ngộ đặc biệt dành cho đội ngũ tham gia phát triển công nghệ chiến lược được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá trong thu hút và giữ chân nhân tài.

Trung tâm thí nghiệm thực hành khoa học công nghệ tại ĐH Công thương TPHCM. Ảnh: NTCC.
Cạnh tranh nhân tài
Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) Vũ Hải Quân, hiện nay trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ tiên phong, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến đang định hình một kỷ nguyên phát triển hoàn toàn mới. Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia ngày nay không còn nằm chủ yếu ở quy mô dân số hay nguồn tài nguyên thiên nhiên mà được quyết định bởi khả năng tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ mới và chuyển hóa công nghệ thành năng suất, năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng của người dân.
Đó cũng là lý do Việt Nam phải thay đổi mô hình tăng trưởng. Ông Vũ Hải Quân cho rằng đất nước cần thực hiện đồng thời ba chuyển đổi chiến lược: chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ; chuyển từ lợi thế nhân công sang lợi thế nhân tài; và chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sang mô hình phát triển dựa trên nhân tài và đổi mới sáng tạo.
Thông điệp này cho thấy bài toán phát triển công nghệ chiến lược không còn đơn thuần là đầu tư thêm phòng thí nghiệm hay mua sắm thiết bị hiện đại, mà trước hết phải tạo dựng được đội ngũ nhân lực đủ năng lực dẫn dắt các chương trình công nghệ trọng điểm quốc gia.
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển các công nghệ chiến lược, Bộ KHCN đang xây dựng nhiều cơ chế được đánh giá là có tính đột phá về tài chính và sử dụng nhân lực. Đáng chú ý, Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đề xuất một loạt chính sách mới, từ cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, quản lý theo kết quả đầu ra đến chấp nhận rủi ro trong hoạt động nghiên cứu.
Trong đó, nội dung nhận được nhiều sự quan tâm là đề xuất khung thu nhập cạnh tranh dành cho đội ngũ nhân lực chủ chốt tham gia các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Cụ thể, mức thu nhập tối đa được đề xuất là 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư, 250 triệu đồng/tháng đối với Kiến trúc sư trưởng, 150 triệu đồng/tháng đối với Chủ nhiệm nhiệm vụ hoặc Chủ tịch Hội đồng và 140 triệu đồng/tháng đối với các chuyên gia, nhà khoa học tham gia. Riêng mức thu nhập dành cho Tổng công trình sư được xây dựng cao hơn mức quy đổi theo sức mua tương đương nhằm tăng sức cạnh tranh trong thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt là những chuyên gia đầu ngành đang rất khan hiếm.
Thay đổi cách thức sử dụng nhân lực
Không chỉ dừng ở đề xuất về thu nhập, hệ thống chính sách mới còn hướng tới thay đổi cách thức sử dụng nhân lực khoa học. Theo bà Vũ Thị Là - Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ KHCN, hiện nay đã có hệ thống luật và nghị định quy định về thu hút, trọng dụng nhân tài khoa học và công nghệ. Đây được xem là hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để triển khai các chính sách mới.
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất là cơ chế tiền lương. Theo đó, các nhà khoa học thực hiện nhiệm vụ KHCN được ký hợp đồng với mức lương không giới hạn trần, thay vì chịu ràng buộc bởi khung lương hành chính như trước.
Đối với nhà khoa học trẻ tài năng, sinh viên xuất sắc khi làm việc trong khu vực công, mức thu nhập tăng thêm có thể đạt 150%, trong khi chuyên gia, nhà khoa học trình độ cao được hưởng phụ cấp tăng thêm tới 300%. Tổng công trình sư hoặc nhân tài KHCN còn được thưởng từ 4-6 lần mức lương hợp đồng, được đánh giá là cơ chế chưa từng có tiền lệ.
Song song với chính sách tài chính, nhiều quy định mới cũng mở rộng quyền tự chủ cho đội ngũ nghiên cứu. Các nhà khoa học được quyền chủ động sử dụng phòng thí nghiệm do Nhà nước đầu tư, tham gia nhóm nghiên cứu mạnh, được cử đi đào tạo trong và ngoài nước mà vẫn hưởng nguyên chế độ tiền lương; đồng thời được hỗ trợ về nhà ở, chăm sóc sức khỏe và nhiều điều kiện làm việc khác.
Nhìn tổng thể, có thể thấy tư duy xây dựng chính sách đã có sự thay đổi đáng kể: từ quản lý theo định mức chi sang đầu tư theo năng lực và hiệu quả nghiên cứu. Đây là bước chuyển cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang cạnh tranh trực tiếp với nhiều quốc gia trong khu vực để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.

TS Nguyễn Quân.
Theo TS Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KHCN: Tổng công trình sư không nhất thiết phải là người trực tiếp làm tất cả các công việc trong dự án, nhưng phải là người có tầm nhìn tổng thể, am hiểu lĩnh vực, quy tụ và phát huy được đội ngũ chuyên gia giỏi. Điều quan trọng hơn là phải được trao quyền thực chất: có quyền mời chuyên gia trong và ngoài nước, quyết định chế độ đãi ngộ phù hợp để họ yên tâm cống hiến. Với các chương trình công nghệ trọng điểm quốc gia, cần có cơ chế đặc thù, giao quyền chủ động cho tổng công trình sư và đánh giá bằng kết quả cuối cùng, thay vì quản lý theo các thủ tục hành chính.
Đãi ngộ phải đi cùng môi trường sáng tạo
Thực tế cho thấy, thu nhập cạnh tranh là điều kiện cần nhưng chưa đủ để giữ chân nhân lực chất lượng cao. Với các nhà khoa học, điều quan trọng không kém là được làm việc trong một môi trường cởi mở, được trao quyền chủ động, có điều kiện theo đuổi các ý tưởng mới và được đánh giá bằng kết quả nghiên cứu thay vì các thủ tục hành chính.
Đó cũng là điều GS.Trần Thanh Vân - Chủ tịch Hội Gặp gỡ Việt Nam, người nhiều năm kết nối cộng đồng khoa học quốc tế với Việt Nam thông qua Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại Quy Nhơn, luôn trăn trở. Theo Giáo sư, người Việt Nam có tiềm năng rất lớn để đóng góp cho sự phát triển của KHCN nếu được tạo dựng một cơ chế đủ thông thoáng. Bên cạnh chính sách đãi ngộ, cần có sự đầu tư ổn định, dài hạn cho các trung tâm nghiên cứu, bảo đảm quyền tự chủ học thuật và điều kiện nghiên cứu hiện đại để các nhà khoa học trong và ngoài nước yên tâm cống hiến.
Chia sẻ quan điểm này, Bộ trưởng Bộ KHCN Vũ Hải Quân cho rằng, nếu các nhà khoa học tâm huyết trở về Việt Nam nhưng vẫn phải dành quá nhiều thời gian cho hồ sơ, thủ tục thì sẽ rất khó thu hút và giữ chân nhân tài. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện cơ chế tài chính, Bộ sẽ tiếp tục xây dựng các chính sách phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu, tạo điều kiện để đội ngũ chuyên gia tập trung cho chuyên môn và phát huy tối đa năng lực.
Ở góc độ cơ sở đào tạo, GS.TS Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng để nhân tài gắn bó lâu dài, cần hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu hoàn chỉnh, trong đó trường ĐH, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, quỹ tài trợ và các nhóm nghiên cứu cùng là những mắt xích quan trọng. Theo ông, muốn hệ sinh thái này vận hành hiệu quả, trước hết phải đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, đồng thời tháo gỡ các rào cản trong quản trị nhằm tăng tính linh hoạt và khuyến khích sáng tạo. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp để khắc phục "điểm đứt gãy" trong chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Chỉ khi các chủ thể được kết nối chặt chẽ, các ý tưởng khoa học mới có thể nhanh chóng trở thành sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tạo nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược.

Theo Bộ trưởng Bộ GDĐT Hoàng Minh Sơn: Chúng ta thường bàn nhiều về cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ, nhưng có lẽ ít nói đến một vấn đề khác, đó là bản thân các trường ĐH và đội ngũ khoa học hiện có thực sự mong muốn đón nhận những người giỏi hơn về làm việc hay chưa?
Để vượt qua rào cản này, cần nghiên cứu các mô hình tổ chức phù hợp, tạo ra những không gian phát triển mới thay vì chỉ dựa vào cơ cấu hiện có. Các trường ĐH cần xây dựng những nhóm nghiên cứu mới, phòng thí nghiệm mới, tạo điều kiện để các nhà khoa học xuất sắc khi trở về có thể đảm nhiệm những vị trí học thuật phù hợp, phát huy năng lực một cách độc lập nhưng vẫn gắn kết hiệu quả với các đơn vị trong trường.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/muon-giu-nguoi-gioi-phai-co-chinh-sach-vuot-khung.html











