Muốn nhân rộng lúa giảm phát thải, phải bắt đầu từ hợp tác xã

Kết quả tích cực từ các mô hình lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Hồng cho thấy tiềm năng mở rộng trên quy mô lớn. Tuy nhiên, theo ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam, chìa khóa để nhân rộng không nằm ở kỹ thuật canh tác mà ở việc tổ chức lại sản xuất thông qua hợp tác xã và các hình thức liên kết nông dân.

Trả lời phỏng vấn VnBusiness ông Lê Thanh Tùng, nhấn mạnh hợp tác xã là yếu tố then chốt để tổ chức sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu lớn và nhân rộng mô hình lúa giảm phát thải trên cả nước. Đồng thời cho biết, ông khá bất ngờ vì kết quả vượt ngoài mong đợi. Qua khảo sát tại các mô hình thí điểm, năng suất lúa đạt khoảng 9 tấn/ha, trong khi mức trung bình tại nhiều địa phương chỉ khoảng 7-7,5 tấn/ha.

"Hiệu quả hấp thu dinh dưỡng của cây lúa tăng rõ rệt, số lần bón phân giảm và áp lực lên môi trường cũng được hạn chế. Lượng phân bón NPK sử dụng giảm gần 50% so với ruộng sản xuất truyền thống. Nếu trước đây chi phí phân bón khoảng 10 triệu đồng/ha thì nay chỉ còn khoảng 5 triệu đồng/ha. Đây là khoản tiết kiệm đáng kể, giúp người nông dân gia tăng lợi nhuận", ông nói.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam.

Sau một vụ thử nghiệm, ông đánh giá thế nào về khả năng triển khai mô hình lúa giảm phát thải tại ĐBSH cũng như các vùng sản xuất lúa khác?

Sản xuất lúa giảm phát thải là yêu cầu chung của cả nước, không chỉ riêng ĐBSCL hay ĐBSH. Việt Nam hiện có khoảng 3,8 triệu ha đất trồng lúa với hơn 7 triệu ha gieo trồng mỗi năm. Việc áp dụng các quy trình canh tác giảm phát thải trên diện rộng sẽ giúp người nông dân giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng giá trị thương mại.

Tuy nhiên, mỗi vùng sinh thái có những điều kiện khác nhau nên cần có giải pháp kỹ thuật phù hợp. Chẳng hạn, khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ có điều kiện khô hạn hơn nên chi phí sản xuất lúa cao hơn. Tại ĐBSH, nguồn nước chủ yếu từ hệ thống thủy lợi và hồ chứa, trong khi ĐBSCL tận dụng nguồn nước tự nhiên từ sông Tiền, sông Hậu. Những khác biệt này đòi hỏi các nhà chuyên môn phải điều chỉnh kỹ thuật canh tác phù hợp với từng vùng.

Nếu xét về kỹ thuật gieo cấy, ĐBSH có những lợi thế nhất định. Trong khi ĐBSCL đang tập trung giảm lượng giống gieo sạ trên một đơn vị diện tích, thì ĐBSH cần đẩy mạnh tích tụ ruộng đất, cơ giới hóa sản xuất để giảm chi phí lao động và nâng cao hiệu quả canh tác.

Vậy các địa phương cần chuẩn bị những gì để triển khai hiệu quả tương tự như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL?

Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải tập hợp nông dân vào các tổ chức sản xuất như hợp tác xã hoặc tổ hợp tác. Khi người dân được liên kết trong một tổ chức chung, việc áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật sẽ thuận lợi hơn, đồng thời tạo điều kiện để thương mại hóa sản phẩm và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Hợp tác xã hiện là yêu cầu quan trọng để xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, phát triển sản xuất theo định hướng của Đề án sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt cũng như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Ông có nói khu vực hợp tác xã là yếu tố then chốt để tổ chức sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu lớn và nhân rộng mô hình lúa giảm phát thải trên cả nước, ông có thể nói rõ hơn điều này?

Điểm mấu chốt của sản xuất lúa ở Việt Nam hiện nay là quy mô đất đai vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún. Nếu mỗi hộ sản xuất riêng lẻ sẽ rất khó áp dụng đồng bộ kỹ thuật, cơ giới hóa hay xây dựng vùng nguyên liệu lớn.

Hợp tác xã chính là chìa khóa để đẩy mạnh những mô hình cánh đồng lúa lớn, giảm phát thải.

Hợp tác xã chính là chìa khóa để đẩy mạnh những mô hình cánh đồng lúa lớn, giảm phát thải.

Ngược lại, khi được tổ chức thông qua hợp tác xã, nhiều hộ nông dân có thể cùng tham gia sản xuất trên một cánh đồng lớn, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm chi phí sản xuất. Đây cũng là nền tảng để triển khai các quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Tôi cho rằng cần nhìn nhận canh tác lúa phát thải thấp không chỉ là hoạt động sản xuất của từng hộ nông dân mà là quá trình tổ chức lại sản xuất và đời sống ở nông thôn. Vì vậy, muốn mở rộng mô hình này thì phải bắt đầu từ hợp tác xã hoặc các hình thức liên kết sản xuất của nông dân. Nếu không giải quyết được bài toán tổ chức sản xuất, chúng ta rất khó mở rộng diện tích canh tác theo quy mô mong muốn.

Chúng tôi đã triển khai mô hình tại một số HTX ở Hải Phòng, Ninh Bình và Hưng Yên. Kết quả bước đầu cho thấy việc mở rộng mô hình ra toàn vùng ĐBSH là hoàn toàn khả thi.

Qua trao đổi với một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Campuchia hay Philippines, chúng tôi nhận thấy Việt Nam có nhiều lợi thế về kỹ thuật canh tác lúa chất lượng cao. Tuy nhiên, khả năng tập hợp nông dân để sản xuất đồng bộ trên quy mô lớn vẫn còn hạn chế. Đó là lý do chúng tôi cho rằng hợp tác xã chính là chìa khóa để phát triển các mô hình cánh đồng lớn và lúa giảm phát thải trong thời gian tới.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Hương thực hiện

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/muon-nhan-rong-lua-giam-phat-thai-phai-bat-dau-tu-hop-tac-xa.html