Muốn phát triển thị trường tài sản mã hóa, Việt Nam phải cân bằng đổi mới và kiểm soát rủi ro
Theo các chuyên gia tại hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026 (Vietnam RWA Summit 2026), Việt Nam cần sớm xây dựng một khung pháp lý đồng bộ cho thị trường tài sản mã hóa, nhưng quan trọng hơn là phải tìm được điểm cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro…
Song hành với các triển vọng tăng trưởng, quản trị rủi ro và an toàn hệ thống được xác định là yếu tố then chốt trong quá trình phát triển thị trường, phù hợp với định hướng thận trọng, có kiểm soát của Nghị quyết 05/2025/NQ-CP.
HAI HƯỚNG TIẾP CẬN QUẢN LÝ TÀI SẢN MÃ HÓA CỦA THẾ GIỚI
Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026 (Vietnam RWA Summit 2026) diễn ra ngày 18/7 tại Hà Nội do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam, Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia và Hiệp hội Bất động sản Việt Nam cùng phối hợp tổ chức. Chia sẻ tại hội nghị, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, lưu ý đến kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiện các quốc gia đang lựa chọn hai hướng tiếp cận chính trong quản lý tài sản mã hóa.
Một số nước xây dựng luật chuyên biệt để điều chỉnh lĩnh vực này, trong khi nhiều quốc gia khác tận dụng hệ thống pháp luật hiện hành và mở rộng phạm vi điều chỉnh thông qua các đạo luật như Luật Thanh toán, Luật Chứng khoán hoặc các quy định tài chính hiện có để quản lý các hoạt động liên quan đến tài sản số.
TS. Cấn Văn Lực cho biết ngay cả cách tiếp cận đối với tiền mã hóa cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. "Trung Quốc khá thận trọng, gần như cấm hoặc hạn chế tiền mã hóa tư nhân, nhưng lại tương đối cởi mở với tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành (CBDC). Điều đó cho thấy quan điểm và mức độ tự do trong quản lý của mỗi quốc gia là rất khác nhau", ông nói.

Theo TS. Cấn Văn Lực, nếu để thị trường phát triển trước khi có hành lang pháp lý đầy đủ thì nguy cơ bị lợi dụng sẽ rất lớn. Ảnh: BB
Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Cấn Văn Lực cho rằng Việt Nam có thể rút ra những bài học quan trọng.
Trước hết, việc quản lý cần dựa trên mức độ rủi ro của từng loại tài sản thay vì chỉ dựa trên tính chất số hóa. Những tài sản có mức độ rủi ro cao cần được giám sát chặt chẽ hơn, trong khi các loại có rủi ro thấp hơn nên được tạo điều kiện phát triển.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý riêng đối với stablecoin - loại tài sản số được bảo chứng bằng các đồng tiền pháp định hoặc tài sản có giá trị ổn định.
Một bài học quan trọng khác là triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa giúp cơ quan quản lý đánh giá tác động trước khi áp dụng trên diện rộng.
Theo ông Lực, nếu để thị trường phát triển trước khi có hành lang pháp lý đầy đủ thì nguy cơ bị lợi dụng sẽ rất lớn. Đồng thời, do tài sản mã hóa liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau nên cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Cơ yếu Chính phủ cùng các cơ quan liên quan sẽ đóng vai trò quyết định.
HẠ TẦNG NIỀM TIN CHO THỊ TRƯỜNG VỐN ĐƯỢC SỐ HÓA
Nếu hàng lang pháp lý là điều kiện cần, hạ tầng dữ liệu tin cậy sẽ là điều kiện đủ để thị trường phát triển và đạt được những kết quả như kỳ vọng. Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam, cho biết dòng vốn vào RWA trong năm 2025 tăng khoảng 300%, cao hơn đáng kể so với các nhóm tài sản khác. Tuy nhiên, trở ngại khiến thị trường chưa phát triển tương xứng với tiềm năng không nằm ở công nghệ token hóa, mà ở việc chưa xây dựng được đầy đủ niềm tin cho thị trường vốn.
Theo ông Trung, blockchain có thể hỗ trợ phân phối, chuyển nhượng và thanh toán tài sản, nhưng không thể tự tạo ra niềm tin hay biến một tài sản kém chất lượng thành tài sản tốt. Niềm tin đối với token phải bắt đầu từ dữ liệu đáng tin cậy về tài sản thực, danh tính có thể kiểm chứng của các bên, thông tin xác thực về tài sản và dòng tiền, cùng cơ chế công bố, theo dõi và giám sát liên tục.

Theo ông Phan Đức Trung, trở ngại khiến thị trường chưa phát triển tương xứng với tiềm năng không nằm ở công nghệ token hóa, mà ở việc chưa xây dựng được đầy đủ niềm tin cho thị trường vốn.
Vì vậy, cấu trúc thị trường cần được xây dựng theo trình tự từ tài sản thực, hạ tầng dữ liệu tin cậy đến tài sản số trên một nền tảng pháp lý phù hợp, sau đó mới hình thành token và các kênh phân phối. Trong cấu trúc này, sàn giao dịch chỉ là một trong nhiều kênh đưa tài sản đến nhà đầu tư; vấn đề quyết định vẫn là loại tài sản được phân phối, chất lượng tài sản và khả năng kiểm chứng dữ liệu phía dưới.
Đối với Việt Nam, ông Trung cho biết trong khoảng 10 tháng, thị trường đã hình thành sáu văn bản ở nhiều cấp độ, từ luật, nghị định đến thông tư, đồng thời tiếp tục chuẩn bị khuôn khổ về định danh và xác thực. Việt Nam cũng có lợi thế về quy mô nhu cầu bán lẻ, với khoảng 200 tỷ USD tài sản mã hóa đi qua thị trường và khoảng 17 triệu ví hoặc người nắm giữ tài sản mã hóa. Đây có thể là nền tảng quan trọng để phát triển thị trường vốn được số hóa, với điều kiện các lớp dữ liệu, tài sản số và cơ chế phân phối được xây dựng đầy đủ.
BỐN BÀI TOÁN LỚN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
TS. Cấn Văn Lực cho rằng quá trình xây dựng thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam hiện đang đứng trước bốn bài toán lớn.
Bài toán thứ nhất là tìm điểm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Việt Nam cần cân nhắc kỹ mức độ cởi mở của chính sách để vừa thu hút đổi mới vừa bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính.
Bài toán thứ hai là bảo vệ nhà đầu tư nhưng không tạo ra tâm lý ỷ lại vào Nhà nước. "Nếu quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư bị xâm phạm thì Nhà nước cần có cơ sở pháp lý để bảo vệ”, ông Lực nhấn mạnh.
“Tuy vậy, doanh nghiệp phải minh bạch, chịu trách nhiệm và nhà đầu tư vẫn phải tự chịu rủi ro thị trường, chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Nếu nhà đầu tư hành động mang tính đầu cơ, giống như đánh bạc, thì chắc chắn Nhà nước không thể đứng ra gánh chịu những tổn thất đó".
Bài toán thứ ba là làm thế nào để đưa hoạt động giao dịch tài sản mã hóa về các sàn giao dịch trong nước nhưng vẫn bảo đảm khả năng cạnh tranh với các nền tảng quốc tế. Theo ông, việc cấp phép cho các sàn giao dịch trong nước là cần thiết, song đây không phải bài toán đơn giản nếu muốn giữ chân nhà đầu tư và dòng vốn.
Bài toán thứ tư là câu chuyện dài hạn: liệu Việt Nam có sẵn sàng coi thị trường tài sản số như một nguồn lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế số hay không.












