Muốn tăng trưởng cao, phải 'mở đường' cho vốn tư nhân

HNN - Mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động giá rẻ đang dần bộc lộ giới hạn, trong khi khoa học - công nghệ, AI, bán dẫn, blockchain (cơ sở dữ liệu số phi tập trung) và tài sản số đang mở ra những dư địa tăng trưởng mới. Tuy nhiên, để biến những tiềm năng này thành nguồn lực thực tế, tư duy thể chế cần chuyển từ bị động quản lý khi vấn đề phát sinh sang chủ động kiến tạo không gian phát triển.

TS Nguyễn Hải Nam, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH TP. Huế. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp 

TS Nguyễn Hải Nam, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH TP. Huế. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp 

Xung quanh vấn đề này, Huế ngày nay Cuối tuần có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Hải Nam, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thuộc Đoàn ĐBQH TP. Huế.

TS Nguyễn Hải Nam cho rằng, bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là tạo lập thể chế để dòng vốn được dẫn vào nền kinh tế thực, đồng thời mở không gian cho những động lực tăng trưởng mới như AI, bán dẫn, blockchain và tài sản số.

Thưa ông, trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng như hiện nay, đâu là vấn đề lớn nhất đặt ra đối với nguồn lực phát triển và khu vực kinh tế tư nhân?

Thách thức lớn hiện nay là mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động giá rẻ không còn phù hợp, nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Vì vậy, cần chuyển mạnh sang mô hình dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, trong đó năng suất tổng hợp TFP (thước đo hiệu quả sử dụng các nguồn lực) phải trở thành động lực quan trọng.

Giai đoạn 2026 - 2030, tổng nhu cầu vốn của Việt Nam được tính toán khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1.470 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế tư nhân chiếm khoảng 65,5%, tương đương 25,5 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy nếu muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam phải đặc biệt quan tâm đến khả năng huy động và hấp thụ nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân.

Tuy nhiên, không thể chỉ nhìn vào câu chuyện “có tiền hay không”. Điều quan trọng là phải tạo ra các dự án đủ chất lượng, minh bạch và có khả năng huy động vốn. Đồng thời, hình thành cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp với các dự án quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

Đâu là những điểm nghẽn lớn nhất trong việc đưa nguồn vốn tư nhân vào nền kinh tế, thưa ông?

Tôi cho rằng có ba khoảng trống cần được giải quyết: Kênh huy động vốn, khả năng hấp thụ dự án và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Đối với doanh nghiệp tư nhân, cần mở rộng các kênh huy động vốn, đồng thời hỗ trợ chuẩn hóa dự án, minh bạch thông tin để các dự án thực sự đủ điều kiện, đủ độ tin cậy để các tổ chức tài chính xem xét cấp vốn. Cùng với đó, xếp hạng tín nhiệm độc lập rất quan trọng, giúp thị trường phân biệt mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp, tái lập kỷ luật thị trường trái phiếu và giảm chi phí vốn đối với những doanh nghiệp có năng lực.

Một vấn đề khác là sự phụ thuộc khá lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Khi tín dụng/GDP ở mức cao, trong khi các dự án dài hạn, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo lại cần nguồn vốn dài hạn, chúng ta phải phát triển mạnh hơn thị trường vốn, bao gồm trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư dài hạn, tài chính xanh, thị trường carbon và các hình thức tài chính mới.

Mục tiêu cuối cùng là hình thành một hệ thống dẫn vốn đa dạng hơn, để dòng tiền không chỉ luân chuyển trong hệ thống tài chính mà thực sự đi vào nền kinh tế.

 Công nhân Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế vận hành các thiết bị trong quá trình lắp ráp ô tô. Ảnh: Kim Long Motor

 Công nhân Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế vận hành các thiết bị trong quá trình lắp ráp ô tô. Ảnh: Kim Long Motor

Ông nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy “không quản được thì cấm” sang “quản lý để phát triển”. Tư duy này cần được thể hiện như thế nào trong việc xây dựng thể chế?

Theo tôi, đây là vấn đề có tính quyết định. Khi nền kinh tế xuất hiện những mô hình kinh doanh, công nghệ và tài sản mới, pháp luật không thể chỉ đi sau để xử lý những vấn đề đã phát sinh. Chúng ta cần một tư duy thể chế mới, trong đó pháp luật vừa bảo đảm quản lý nhà nước, vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo và phát triển.

Tôi cho rằng phải chuyển từ tư duy “không quản được thì cấm” sang “quản lý để phát triển”, nhưng quản lý phải đi cùng kiểm soát rủi ro. Cơ quan quản lý cần đồng hành với doanh nghiệp để hoàn thiện thể chế, thay vì chỉ đứng ở vị trí kiểm soát.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với những lĩnh vực mới như AI, bán dẫn, blockchain và tài sản số. Khi pháp luật đã định danh, phân loại và xác lập nguyên tắc quản lý đối với những tài sản, mô hình mới, chúng ta mới có cơ sở để xây dựng các chính sách về thuế, cấp phép, thị trường và quản trị rủi ro.

Với tài sản số, chẳng hạn, có thể áp dụng cơ chế sandbox (không gian thử nghiệm có kiểm soát). Việc thử nghiệm cần khoanh vùng về quy mô, thời gian và đối tượng tham gia, đồng thời tăng cường giám sát công nghệ, bảo mật dữ liệu, phòng, chống rửa tiền và phát hiện giao dịch bất thường. Sandbox không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý mà là cách quản lý phù hợp hơn với những mô hình chưa có đủ dữ liệu thực tiễn.

Từ kinh nghiệm quốc tế và lợi thế trong nước, Việt Nam nói chung và TP. Huế nói riêng có thể làm gì để biến các lĩnh vực mới thành động lực tăng trưởng, thưa ông?

Kinh nghiệm từ Singapore, Dubai và nhiều quốc gia khác cho thấy một logic chung là thể chế phải đi trước, minh bạch làm nền và chính sách đủ hấp dẫn để thu hút vốn, công nghệ và nhân lực. Tuy nhiên, Việt Nam không nên sao chép nguyên mẫu mà cần lựa chọn những mô hình phù hợp với điều kiện của mình.

Việt Nam có nhiều lợi thế về lực lượng lao động số, năng lực công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp trong các lĩnh vực blockchain, AI, Fintech. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển những không gian kinh tế mới. Nhưng tiềm năng chỉ có thể trở thành giá trị kinh tế nếu đi cùng thể chế phù hợp và năng lực quản trị tương ứng.

Một hướng cần nghiên cứu là token hóa tài sản thực (RWA - số hóa giá trị tài sản thực), qua đó tạo thêm phương thức huy động vốn, kể cả nguồn vốn quốc tế. Tuy nhiên, mọi thử nghiệm phải được đặt trong khuôn khổ kiểm soát rủi ro rõ ràng, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng, chống rửa tiền và quản trị dòng vốn.

Chúng ta cũng cần tiếp tục phát triển thị trường vốn, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn và từng bước tạo ra một hệ sinh thái tài chính có khả năng kết nối nguồn lực trong nước với dòng vốn quốc tế.

 Công nhân Công ty cổ phần Dệt may Huế kiểm tra sản phẩm. Ảnh: Minh Nghĩa

 Công nhân Công ty cổ phần Dệt may Huế kiểm tra sản phẩm. Ảnh: Minh Nghĩa

Nếu phải lựa chọn một thông điệp quan trọng nhất về chính sách và thể chế phát triển trong giai đoạn mới, ông muốn nhấn mạnh điều gì?

Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là phải xây dựng pháp luật kiến tạo, thể chế phát triển.

Việt Nam đang đứng trước một thời điểm có nhiều cơ hội khi dòng vốn quốc tế có xu hướng tái phân bổ, trong khi lực lượng doanh nghiệp, nhân lực công nghệ và những nguồn lực mới đang hình thành. Tuy nhiên, cơ hội sẽ không tự biến thành động lực tăng trưởng. Chúng ta phải tạo được môi trường thể chế đủ minh bạch, an toàn và linh hoạt để nguồn lực được đưa vào nền kinh tế thực.

Khi cơ quan quản lý đồng hành cùng doanh nghiệp để hoàn thiện thể chế, chúng ta không chỉ quản lý được những lĩnh vực mới mà còn có thể biến chúng thành những động lực tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ và tài chính số có vị thế trong khu vực.

Xin cảm ơn ông!

Lê Thọ (thực hiện)

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/muon-tang-truong-cao-phai-mo-duong-cho-von-tu-nhan-169821.html