Muốn vào thị trường Úc, doanh nghiệp Việt phải chuẩn hóa từ gốc
Thị trường Úc đang mở ra dư địa lớn cho hàng hóa Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng, song để mở rộng thị phần, doanh nghiệp không chỉ cần tận dụng ưu đãi thuế quan mà còn phải đáp ứng ngày càng cao các yêu cầu về chất lượng, xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, ESG và logistics.
Tại Hội thảo “Tiềm năng xuất khẩu sang thị trường Úc - Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường” diễn ra ngày 30/9, ông Lê Anh Hoàng - Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) cho biết, trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Úc tăng 30%. Riêng tại TP. Hồ Chí Minh, trong chưa đầy 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu với Úc đạt 1,56 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 985 triệu USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước.
Úc là thị trường có sức mua cao, nhu cầu đa dạng đối với các nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam như máy móc thiết bị, dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, nông thủy sản và thực phẩm chế biến. Tuy nhiên, thị trường này có yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Do đó, doanh nghiệp muốn mở rộng xuất khẩu phải nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, đồng thời nắm chắc quy định pháp lý, xu hướng tiêu dùng và hệ thống phân phối tại Úc.
Giai đoạn 2026 - 2030, TP. Hồ Chí Minh định hướng đẩy mạnh xuất nhập khẩu gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao giá trị hàng hóa, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Ông Nguyễn Mạnh Hiệp - Lãnh sự Thương mại, đại diện Thương vụ Việt Nam tại Úc, cho rằng doanh nghiệp cần chủ động tận dụng ba hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam và Úc cùng là thành viên gồm AANZFTA, CPTPP và RCEP.
Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ thương mại gia tăng, việc các FTA đưa hầu hết dòng thuế quan nhập khẩu về mức 0% giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí, hạ giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đáng chú ý, ông Hiệp khuyến nghị doanh nghiệp chuyển từ tâm thế “biết có FTA” sang “vận dụng thành thạo cách dùng FTA”. Trọng tâm là tái cấu trúc chuỗi cung ứng, nắm vững quy tắc xuất xứ đối với từng mã hàng và minh bạch hồ sơ, chứng từ nguyên liệu đầu vào để đáp ứng yêu cầu xác minh, hậu kiểm của Lực lượng Hải quan Úc (ABF), kể cả sau khi hàng hóa đã được thông quan.

Doanh nghiệp Việt Nam chuẩn hóa sản phẩm để đáp ứng các yêu cầu khắt khe khi vào thị trường Úc. Ảnh: Lạc Nguyên
Bên cạnh ưu đãi thuế quan, thị trường Úc cũng đặt ra yêu cầu cao về thương hiệu và phương thức tiếp cận. Theo ông Hiệp, người tiêu dùng Úc có mức độ trung thành thương hiệu cao, trong khi hàng Việt phải cạnh tranh với sản phẩm từ Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ. Doanh nghiệp cần đa dạng hóa phương thức thâm nhập thông qua hội chợ chuyên ngành, hợp tác với nhà phân phối bản địa hoặc thử nghiệm thương mại điện tử xuyên biên giới trên các nền tảng như Amazon và eBay đối với những mặt hàng phù hợp.
Ông Sam Conroy - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Úc tại Việt Nam (AusCham), cho biết Úc có khoảng 27,9 triệu dân, GDP bình quân đầu người xấp xỉ 105.000 AUD. Khoảng 32% dân số sinh ra ở nước ngoài, tương đương khoảng 8,8 triệu người, tạo ra cơ cấu tiêu dùng đa văn hóa và nhu cầu đa dạng đối với các sản phẩm mang bản sắc châu Á.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Úc tăng 88% trong giai đoạn 2020-2025, nhưng thị phần Việt Nam mới chiếm khoảng 2,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hơn 308 tỷ USD của Úc năm 2025. Năm 2025, một số nhóm hàng Việt Nam ghi nhận tăng trưởng như đồ chơi và dụng cụ thể thao tăng 76,2%, cà phê tăng 42,6% và rau quả tăng 28,9%.
Theo ông Sam Conroy, cơ hội tiếp theo nằm ở các nhóm thực phẩm giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến tiện lợi, hữu cơ, đạt chuẩn Halal, vật liệu xây dựng và nội thất thân thiện với môi trường. Doanh nghiệp Việt Nam cần tập trung vào tổ hợp giá trị gồm chất lượng, độ tin cậy, tính linh hoạt và năng lực đáp ứng thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Trong khi đó, ông Matt Lourey - Chủ tịch Công ty Alitium, thành viên AusCham, lưu ý đáp ứng điều kiện xuất xứ để hưởng ưu đãi FTA không đồng nghĩa sản phẩm tự động đủ điều kiện lưu hành tại Úc. Doanh nghiệp còn phải đáp ứng các quy định về cửa khẩu và phân loại thuế quan, kiểm dịch an toàn sinh học và vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn sản phẩm cùng các yêu cầu về trách nhiệm xã hội và môi trường.
Ở khâu logistics, ông Chandler So - Giám đốc Điều hành Công ty TNHH GEODIS Việt Nam, cho biết chi phí logistics thực tế có thể chiếm 15%-30% giá bán lẻ hàng hóa tại Úc. Doanh nghiệp cần chủ động hợp đồng vận tải biển theo năm, sử dụng dịch vụ gom hàng lẻ định kỳ và khai thác kho ngoại quan để tối ưu chi phí. Đối với mùa cao điểm, doanh nghiệp nên đặt chỗ tàu trước 4-6 tuần; đồng thời có thể ứng dụng cảm biến IoT để theo dõi nhiệt độ, độ ẩm đối với hàng hóa chuỗi lạnh.
Những yêu cầu từ thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật đến logistics cho thấy việc mở rộng xuất khẩu sang Úc đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam chuẩn hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, từ sản phẩm, hồ sơ pháp lý đến phương thức phân phối và giao hàng./.

