Mỹ đánh giá thấp tác động với eo biển Hormuz khi phát động tấn công Iran
Theo nhiều nguồn tin, khi lập kế hoạch cho cuộc tấn công Iran, Lầu Năm Góc và Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã đánh giá thấp đáng kể khả năng Iran sẵn sàng đóng cửa eo biển Hormuz để đáp trả.
Thiết sót khi lập kế hoạch

Tổng thống Mỹ Donald Trump giám sát chiến dịch tấn công quân sự Iran tại Washington D.C., ngày 2/3/2026. Ảnh: Anadolu Agency/TTXVN
Theo kênh CNN ngày 13/3, các nguồn tin cho biết đội ngũ an ninh quốc gia của Tổng thống Donald Trump đã không tính toán đầy đủ những hậu quả tiềm tàng của kịch bản tồi tệ nhất mà chính quyền Mỹ đang phải đối mặt.
Dù các quan chức chủ chốt tại Bộ Năng lượng và Bộ Tài chính đã tham dự một số cuộc họp lập kế hoạch chính thức về chiến dịch trước khi bắt đầu, nhưng các phân tích và dự báo của các bộ này (vốn là yếu tố then chốt trong quá trình ra quyết định thời các chính quyền trước) lại chỉ được xem là yếu tố thứ yếu.
Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent và Bộ trưởng Năng lượng Chris Wright đã đóng vai trò quan trọng trong suốt các giai đoạn lập kế hoạch và triển khai cuộc xung đột. Tuy nhiên, việc Tổng thống Trump thường dựa vào một nhóm nhỏ cố vấn thân cận trong các quyết định an ninh quốc gia đã khiến các cuộc tranh luận liên bộ về những hệ quả kinh tế tiềm tàng bị gạt sang một bên.
Theo các quan chức Mỹ, có thể phải mất nhiều tuần thì các nỗ lực của chính quyền nhằm giảm bớt các tác động kinh tế ngày càng gia tăng mới bắt đầu phát huy hiệu quả. Những nỗ lực này bao gồm việc hộ tống tàu chở dầu đi qua eo biển bằng hải quân. Đây là hoạt động có rủi ro cao mà Lầu Năm Góc cho rằng hiện vẫn quá nguy hiểm nên chưa tiến hành. Trong khi đó, Tổng thống Trump vẫn tiếp tục giảm nhẹ mức độ hỗn loạn trên thị trường năng lượng.
Thực tế hiện nay tại eo biển Hormuz đã khiến các đối tác ngoại giao, các cựu quan chức kinh tế và năng lượng của Mỹ cũng như các lãnh đạo trong ngành rơi vào trạng thái bối rối. Một cựu quan chức Mỹ từng phục vụ trong các chính quyền của đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ nói: “Quá trình lập kế hoạch để ngăn chặn chính kịch bản này đã là nguyên tắc nền tảng của chính sách an ninh quốc gia Mỹ trong nhiều thập kỷ. Tôi thật sự không hiểu nổi”.
Các lãnh đạo ngành vận tải biển đã nhiều lần đề nghị Hải quân Mỹ hộ tống, nhưng tất cả đều bị từ chối. Trong các cuộc họp thông tin thường xuyên dành cho các doanh nghiệp trong khu vực, các quan chức quân sự Mỹ liên tục khẳng định rằng họ chưa nhận được lệnh bắt đầu chiến dịch hộ tống và rủi ro đối với các tài sản của Mỹ vẫn cực kỳ cao.
Ngày 12/3, ông Bessent nói với rằng các hoạt động hộ tống đó sẽ bắt đầu ngay khi điều kiện quân sự cho phép. Ông nói: “Điều đó luôn nằm trong kế hoạch của chúng tôi, rằng có khả năng Hải quân Mỹ, hoặc có thể là một liên minh quốc tế, sẽ hộ tống các tàu chở dầu đi qua”.
Tuy nhiên, theo các nguồn tin, con đường dẫn đến tình hình hiện nay dường như phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa các giả định địa chính trị, các dự báo về thị trường năng lượng và các ưu tiên chiến lược chồng chéo.
Ba nguồn tin cho biết trong các cuộc họp kín gần đây, các quan chức cấp cao của chính quyền Mỹ đã thừa nhận với các nghị sĩ rằng họ không lập kế hoạch cho khả năng Iran đóng eo biển Hormuz để đáp trả các cuộc tấn công.
Nhiều nguồn tin nói rằng lý do là các quan chức chính quyền tin rằng đóng eo biển Hormuz sẽ gây tổn hại cho Iran nhiều hơn cho Mỹ. Đây là quan điểm hình thành sau khi Iran cũng từng cảnh báo đóng eo biển này khi bị tấn công năm 2025 nhưng không thực hiện.
Giải thích của chính quyền

Nhà Trắng tại Washington D.C., Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN
Ngày 12/3, Nhà Trắng ca ngợi quá trình lập kế hoạch của chính quyền trong một tuyên bố. Người phát ngôn Anna Kelly nói: “Thông qua một quy trình lập kế hoạch chi tiết, toàn bộ chính quyền đã và đang sẵn sàng cho bất kỳ hành động tiềm tàng nào của Iran”, đồng thời ca ngợi thành công của quân đội Mỹ. Bà nói thêm: “Tổng thống Trump đã nói rõ rằng gián đoạn năng lượng đều chỉ là tạm thời và sẽ mang lại lợi ích to lớn cho đất nước chúng ta và nền kinh tế toàn cầu trong dài hạn”.
Nhiều quan chức Mỹ đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ nhấn mạnh rằng các kế hoạch hành động quân sự nào nhằm vào Iran đều tính đến khả năng Iran đóng tuyến đường thủy này. Quân đội Mỹ từ lâu đã duy trì và cập nhật các kế hoạch để đối phó với hành động quân sự của Iran tại hành lang chiến lược quan trọng này.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn cung dầu và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu dồi dào, sản lượng dầu của Mỹ ở mức cao kỷ lục và các quan chức Mỹ đang hợp tác tốt đẹp với chính phủ Venezuela trong lĩnh vực dầu mỏ, nên quy mô toàn cầu của các rủi ro tiêu cực đã không được coi là yếu tố quan trọng.
Ngay cả khi cân nhắc khả năng gián đoạn tại eo biển Hormuz, chính quyền cũng tập trung nhiều hơn vào cách nhìn rất tích cực về phản ứng của thị trường nếu loại bỏ hoàn toàn mối đe dọa gây gián đoạn từ Iran.
Ông Wright nói trong cuộc phỏng vấn với NewsNation ngày 11/3: “Để thành công trong cuộc sống, ta phải chịu đau đớn ngắn hạn để đạt được lợi ích dài hạn và đó chính là điều chúng tôi đang làm lúc này. Tôi nghĩ người dân Mỹ sẽ rất hài lòng với một thế giới hòa bình ở phía trước và nguồn cung năng lượng an toàn hơn trong nhiều thập kỷ tới”.
Các lựa chọn khác để giảm áp lực

Tàu chở hàng Mayruree Naree đăng ký tại Thái Lan bị tấn công ở khu vực eo biển Hormuz ngày 11/3/2026. THX/TTXVN
Khi chưa thể điều lực lượng hải quân hộ tống tàu thuyền qua eo biển Hormuz, các quan chức chính quyền Mỹ phải tính đến các lựa chọn khác.
Ngày 12/3, ông Bessent thông báo Bộ Tài chính tạm thời dỡ bỏ các lệnh trừng phạt dầu Nga vốn đang bị mắc kẹt trên biển.
Trước đó cùng ngày, Nhà Trắng cho biết họ đang xem xét nới lỏng các hạn chế theo Đạo luật Jones để có thể làm chậm đà tăng của giá xăng. Đây là luật hàng hải có từ một thế kỷ trước yêu cầu hàng hóa vận chuyển giữa các cảng của Mỹ phải do tàu Mỹ chở.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt nói với CNN trong một tuyên bố: “Vì lợi ích của quốc phòng, Nhà Trắng đang xem xét miễn áp dụng Đạo luật Jones trong một khoảng thời gian giới hạn để bảo đảm các sản phẩm năng lượng thiết yếu và các nhu yếu phẩm nông nghiệp có thể lưu thông tự do tới các cảng của Mỹ. Quyết định này chưa được hoàn tất”.
Các chuyên gia cho biết chính quyền còn nhiều biện pháp khác có thể thực hiện, nhiều khả năng dưới dạng sắc lệnh hành pháp, nhằm giảm bớt đà tăng giá xăng.
Một bước đang được xem xét là miễn các yêu cầu sản xuất đối với các nhà sản xuất xăng trong những tháng ấm áp để giảm ô nhiễm không khí. Xăng bay hơi vào không khí nhiều hơn vào mùa hè, vì vậy khi đó có các quy định nghiêm ngặt để ngăn lượng phát thải khí nhà kính cao.
Các nguồn tin cho biết một sắc lệnh hành pháp nhằm giảm gánh nặng này đối với các nhà sản xuất xăng của Mỹ có thể giúp giảm phần nào chi phí, ngay cả trong những tuần sau khi khủng hoảng kết thúc.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng tác động của những biện pháp như vậy khó có thể kìm hãm đáng kể đà tăng giá. Ông Clayton Seigle, chuyên gia năng lượng tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, nói: “Tôi nghĩ đây chỉ là yếu tố bù đắp rất nhỏ so với yếu tố đang khiến giá xăng tăng cao, đó là những lo ngại về nguồn cung thực tế của các sản phẩm lọc dầu trên toàn cầu, cũng như dầu thô”.













