'Nam châm' kéo nhà đầu tư vào phát triển công nghiệp văn hóa
Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển nhanh và bền vững. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng để các địa phương phát huy lợi thế, kết nối nguồn lực trong nước, quốc tế và từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Các địa phương phát huy lợi thế, kết nối nguồn lực trong nước, quốc tế và từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa (Nguồn TTXVN)
Kết nối những mắt xích vốn rời rạc
Mỗi địa phương đều sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, từ di sản, làng nghề, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực đến du lịch và các sản phẩm sáng tạo. Chính vì vậy, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo là một trong những hướng quan trọng để biến các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển. Cùng với đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục tạo cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, huy động nguồn lực xã hội và chuyển đổi số.
Không dừng lại ở đó, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là bước đầu kết nối những mắt xích vốn rời rạc, từ người sáng tạo, đào tạo nhân lực, tài sản trí tuệ, hạ tầng, nguồn vốn, doanh nghiệp đến thị trường, qua đó hình thành một hệ sinh thái có khả năng tự tạo và gia tăng giá trị. Trong cấu trúc đó, tài sản trí tuệ không chỉ được nhìn nhận là quyền cần bảo hộ, mà phải trở thành một loại tài sản có thể định giá, góp vốn, làm tài sản bảo đảm và tiếp tục tạo dòng tiền thông qua chuyển thể, cấp phép, nhượng quyền, hàng hóa phái sinh hay xuất khẩu. Nhà nước không làm thay thị trường mà sử dụng nguồn lực công như "vốn mồi", dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực xã hội, đồng thời chấp nhận rủi ro thị trường trong một khuôn khổ minh bạch, có tiêu chí và trách nhiệm giải trình.
Từ thực tiễn của Huế - đô thị di sản, trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế Nguyễn Thiên Bình khẳng định, công nghiệp văn hóa không phải là lĩnh vực tách rời hoạt động bảo tồn, mà là phương thức chuyển hóa có trách nhiệm các giá trị di sản, cảnh quan, tri thức và bản sắc địa phương thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng. Quá trình xây dựng Đề án phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của thành phố cho thấy nhiều điểm nghẽn chưa thể xử lý đầy đủ bằng các quy định hiện hành như chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê đủ khả năng bóc tách đóng góp của từng ngành; việc khai thác tài sản công và không gian di sản để tổ chức hoạt động sáng tạo còn thiếu cơ chế linh hoạt; các quy định về đặt hàng, lựa chọn nhà sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư và thương mại hóa tài sản trí tuệ chưa thật sự phù hợp với tính đặc thù của sản phẩm văn hóa.
Cùng chung nhận định này, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng Nguyễn Thị Hội An nhấn mạnh, việc phát triển văn hóa đồng bộ với tăng trưởng kinh tế luôn là định hướng cốt lõi. Thời gian qua, thành phố đã tập trung đầu tư, đưa các sản phẩm du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện và lễ hội quốc tế trở thành thương hiệu đặc trưng. Dù đã có những dấu ấn nhất định, thực tiễn triển khai tại địa phương vẫn đang vấp phải không ít "điểm nghẽn". Đó là những khó khăn về cơ chế thu hút đầu tư ngoài nhà nước, bài toán hợp tác công - tư (PPP) trong thiết chế văn hóa, hay vấn đề bảo vệ bản quyền, định giá tài sản trí tuệ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người làm sáng tạo.
Vì vậy, từ góc độ địa phương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế kỳ vọng , Luật không chỉ xác lập chính sách khuyến khích chung mà còn tạo công cụ pháp lý đủ rõ và khả thi để các địa phương phát huy lợi thế riêng; đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, giữa quyền chủ động sáng tạo với trách nhiệm bảo vệ di sản, bản quyền và lợi ích cộng đồng.
Hỗ trợ tham gia đầu tư hiệu quả trong chuỗi giá trị
Tại hội thảo lấy ý kiến Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa diễn ra vừa qua, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng cho rằng, việc xây dựng Luật cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp, người sáng tạo tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của dự thảo khi xác định quá trình chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế. Dự thảo Luật gồm 9 chương, 60 điều, tiếp cận theo chuỗi từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư; trong đó tài sản trí tuệ, chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm.
Bên cạnh đó, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, vốn tư nhân thường có xu hướng tìm đến những công thức đã thành công. Trong khi các dự án sáng tạo mới, có tính thử nghiệm cao nhưng có ý nghĩa đối với bản sắc và sức mạnh mềm quốc gia lại khó huy động vốn. Trong trường hợp ấy, Nhà nước cần đóng vai trò "vốn mồi", vốn dẫn dắt, chứ không phải thay thị trường làm thị trường.
Dự thảo xác định đồng đầu tư có thể được thực hiện đối với tài sản sở hữu trí tuệ gốc trọng điểm, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm và sản phẩm có hàm lượng bản sắc Việt Nam cao; các hình thức có thể gồm vốn đối ứng, đầu tư thông qua quỹ, mua cổ phần hoặc phần vốn góp, chia sẻ rủi ro hay chia sẻ doanh thu theo hợp đồng. Đây là sự chuyển đổi tư duy từ Nhà nước tài trợ cho văn hóa sang Nhà nước đầu tư cho sự phát triển của văn hóa, đồng thời sử dụng nguồn lực công để kích hoạt những nguồn lực lớn hơn của xã hội, PGS.TS Bùi Hoài Sơn khẳng định.
Không chỉ quan tâm đến các nhà đầu tư trong nước, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất cơ chế ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, đồng thời đặt ra các tiêu chí đối với nhà đầu tư và dự án nhằm gắn nguồn vốn, công nghệ, năng lực phân phối quốc tế với việc khai thác, phát triển và đưa tài sản trí tuệ văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế. Đáng chú ý, dự án đầu tư nước ngoài ưu tiên thu hút không chỉ được xem xét trên cơ sở năng lực của nhà đầu tư mà còn phải đáp ứng những tiêu chí gắn với việc khai thác và phát triển tài sản trí tuệ văn hóa Việt Nam.
Theo các chuyên gia, vấn đề đặt ra là muốn chuyển tác phẩm thành tài sản và từ tài sản tạo ra dòng tiền, trước hết phải xác lập được quyền đối với tài sản ấy. Tác phẩm văn học sau khi được xuất bản không nhất thiết dừng lại ở một cuốn sách, mà hoàn toàn có thể được chuyển thể thành phim, sân khấu, sách nói, sách điện tử, dịch ra nhiều ngôn ngữ hoặc khai thác trên các nền tảng số. Tương tự, các ca khúc có thể được sử dụng trong chương trình biểu diễn, phim ảnh, quảng cáo và các nền tảng trực tuyến. Một hình tượng văn hóa có thể trở thành chất liệu cho thiết kế, thời trang, hoạt hình, trò chơi điện tử hay sản phẩm du lịch. Mỗi lần chuyển đổi hình thức khai thác là một lần giá trị của tác phẩm có thể được gia tăng và cũng thêm lần quyền tác giả, quyền liên quan và quyền khai thác cần được xác định rõ.
“Nếu không giải quyết tốt vấn đề này, chính những mắt xích tạo ra giá trị gia tăng lại có thể trở thành nơi phát sinh tranh chấp”, một chuyên gia khẳng định.
Từ câu chuyện của bản quyền có thể thấy vấn đề rộng hơn, đó là công nghiệp văn hóa muốn phát triển không thể chỉ dựa vào việc tạo ra sản phẩm mà cần hình thành được thị trường cho quyền khai thác sản phẩm. Bà Phan Thị Diệu Hoa, Trưởng phòng Pháp chế CJ CGV Việt Nam, đề xuất hoàn thiện cơ chế pháp lý để doanh nghiệp điện ảnh có thể phát triển và đa dạng hóa hoạt động; trong đó có việc đơn giản hóa thủ tục đối với hợp đồng hợp tác kinh doanh trong sản xuất phim, rút ngắn thời gian xử lý và thống nhất tiêu chí thẩm định. Đồng thời, mở rộng chức năng hệ thống rạp chiếu phim để có thể phổ biến livestream, hòa nhạc, biểu diễn nghệ thuật, thể thao, eSports và nội dung số với cơ chế quản lý phù hợp.

