Nâng cao hiệu lực quản lý môi trường từ thực thi kiến nghị kiểm toán

Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững, những cảnh báo, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước (KTNN) liên quan đến công tác bảo vệ môi trường (BVMT) cần được quan tâm và thực hiện nghiêm túc, triệt để, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý môi trường.

Việc thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị kiểm toán góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT. Ảnh: ST

Việc thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị kiểm toán góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT. Ảnh: ST

Cảnh báo nhiều bất cập trong quản lý môi trường

Bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030, kiểm toán môi trường là một trong những lĩnh vực được KTNN chú trọng tăng cường cả về số lượng và chất lượng.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2022-2024, KTNN đã thực hiện 12 cuộc kiểm toán trong lĩnh vực BVMT, tập trung vào một số nội dung trọng tâm như: Đánh giá công tác quản lý, BVMT tại cụm công nghiệp, làng nghề, khu công nghiệp, nhà máy nhiệt điện than; công tác BVMT trong sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt; quản lý, xử lý nước thải, rác thải; quản lý, sử dụng kinh phí BVMT và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn một số tỉnh, thành phố.

Việc chấp hành đầy đủ, triệt để các kiến nghị của KTNN, cùng với việc hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm tăng cường hậu kiểm và minh bạch, là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Chúng tôi kỳ vọng KTNN tiếp tục phát huy vai trò là công cụ giám sát hiệu quả trong lĩnh vực môi trường, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Ông Tạ Đình Thi
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Kết quả kiểm toán cho thấy, về cơ bản, các Bộ, ngành và địa phương đã tham mưu xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện quản lý nhà nước về BVMT theo quy định của Luật BVMT năm 2020. Tuy nhiên, KTNN cũng phát hiện nhiều “lỗ hổng”, hạn chế trong công tác quản lý, BVMT ở các cấp, các ngành, tập trung vào những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm lớn, qua đó cung cấp thông tin cảnh báo sớm phục vụ công tác giám sát.

Cụ thể, đối với công tác BVMT tại các cụm công nghiệp và làng nghề, KTNN chỉ ra rằng, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý liên quan còn chưa đầy đủ, kịp thời, dẫn đến chưa cụ thể hóa được các quy định, hướng dẫn phù hợp với thực tiễn. Nhiều địa phương chưa tổ chức đánh giá mức độ ô nhiễm và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề theo quy định; chưa xây dựng kế hoạch chuyển đổi ngành nghề. Phần lớn các làng nghề chưa hoàn thiện hạ tầng BVMT; một số cụm công nghiệp chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Đối với công tác BVMT tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, kết quả kiểm toán cũng chỉ ra nhiều hạn chế, bất cập trong công tác thẩm định, phê duyệt hồ sơ môi trường; cấp, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép môi trường.

Liên quan đến các nhà máy nhiệt điện than, KTNN phát hiện tại một số nhà máy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giấy phép xả thải có lưu lượng lớn hơn lưu lượng nước đầu vào theo giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, tiềm ẩn nguy cơ khai thác không phép. Bên cạnh đó, một số nhà máy chưa tuân thủ đầy đủ quy định về hồ sơ môi trường; đề án xử lý, tiêu thụ tro, xỉ, thạch cao chưa bảo đảm theo quy định.

“Đáng chú ý, đến hết năm 2022, có 4 nhà máy có lượng tro, xỉ tồn trữ vượt quá tổng lượng phát thải của hai năm sản xuất, cho thấy việc xử lý tro, xỉ vẫn là vấn đề tồn tại lớn” - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi cho biết.

Làm rõ thêm thực trạng này, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài thông tin, đến hết năm 2024, lượng tro, xỉ và thạch cao phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện trên cả nước ước tính tồn đọng khoảng 51,4 triệu tấn. Mặc dù đã có các phương án tái sử dụng, như phục vụ hoàn nguyên các mỏ đã kết thúc khai thác hoặc làm vật liệu xây dựng, giao thông, song hiện nay chưa có quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn cụ thể cho việc hoàn nguyên mỏ, nên các nhà máy chưa thể triển khai các giải pháp này.

Tăng cường cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình

Đánh giá cao vai trò, đóng góp và các kiến nghị quan trọng của KTNN đối với công tác BVMT, song qua thực tế giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”, ông Tạ Đình Thi cho rằng, vẫn còn nhiều kiến nghị kiểm toán mang tính cảnh báo, phòng ngừa chưa được các đơn vị thực hiện nghiêm túc, triệt để.

“Việc chây ỳ, chậm trễ trong xử lý 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng còn tồn đọng (tính đến tháng 9/2025) là ví dụ cho thấy việc chấp hành các yêu cầu quản lý nhà nước chưa thực sự đầy đủ, trong khi những nội dung này đã nhiều lần được KTNN và các cơ quan thanh tra cảnh báo” - ông Thi nhận định.

Qua giám sát, Đoàn giám sát của Quốc hội đã yêu cầu làm rõ các hạn chế, bất cập được KTNN chỉ ra, như trách nhiệm trong việc chậm ban hành và hướng dẫn áp dụng các quy chuẩn, kỹ thuật sử dụng tro, xỉ, thạch cao để hoàn nguyên mỏ; nguyên nhân và giải pháp nhằm sớm xử lý dứt điểm việc tiêu thụ tro, xỉ; đồng thời đánh giá chính xác lượng tồn đọng để có giải pháp xử lý phù hợp, tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này.

Để bảo đảm các kết quả giám sát, thanh tra, đặc biệt là kiến nghị kiểm toán, được các đơn vị thực hiện nghiêm túc, triệt để, Đoàn giám sát nhấn mạnh yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình và tăng cường cơ chế giám sát thực thi. Theo đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cần chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp, các Bộ, ngành nghiêm túc thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN và báo cáo kết quả thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đoàn giám sát cũng đề nghị sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất về thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và kiểm toán môi trường từ Trung ương đến địa phương, nhằm phục vụ việc lựa chọn đối tượng kiểm tra, kiểm toán và đánh giá tổng thể công tác BVMT trên phạm vi cả nước.

Tại Nghị quyết của Quốc hội về “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường”, Quốc hội yêu cầu tăng cường vai trò của kiểm toán môi trường, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, có tính răn đe, nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm. Điều này tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của công tác kiểm toán môi trường như một công cụ giám sát hiệu quả trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững; đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị trong việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, qua đó nâng cao hiệu quả công tác BVMT./.

Đ. KHOA

Nguồn Kiểm Toán: http://baokiemtoan.vn/nang-cao-hieu-luc-quan-ly-moi-truong-tu-thuc-thi-kien-nghi-kiem-toan-45796.html