Nâng cao kỹ năng nghề và mở rộng sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Giáo dục nghề nghiệp, trang bị kỹ năng nhằm bảo đảm tiếng nói và sự tham gia thực chất, mở rộng cơ hội sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số.

Phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trưng bày các sản phẩm từ mô hình sinh kế vùng biên giới. Ảnh minh họa/internet.
Gỡ rào cản, mở rộng cơ hội phát triển
Sau 5 năm triển khai giai đoạn I (2021-2025) Dự án 8 "Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em" thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 do Học viện Phụ nữ Việt Nam chủ trì - đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần thay đổi nhận thức và hành động của cộng đồng.
Bà Nguyễn Thị Minh Hương - Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam bày tỏ mong muốn có những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm bảo đảm phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia thực chất vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu là tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực, vươn lên trong cuộc sống và đồng hành cùng phụ nữ cả nước trong xây dựng xã hội phát triển bao trùm.
Theo bà Hương, tiếng nói của phụ nữ dân tộc thiểu số trong đời sống cộng đồng chưa được coi trọng đúng mức. Vai trò của họ trong hệ thống chính trị - xã hội ở cơ sở còn hạn chế. Rào cản ngôn ngữ, khác biệt văn hóa và định kiến giới cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận cơ hội phát triển.
Một số mô hình thí điểm bước đầu phát huy hiệu quả nhưng chưa được nhân rộng hoặc chưa bảo đảm tính bền vững. Việc lồng ghép vấn đề giới giữa các dự án thành phần chưa rõ nét. Nguồn lực phân bổ giữa các địa phương còn thiếu đồng đều, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các giải pháp.
Theo PGS.TS Dương Kim Anh - Phó Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm tiếng nói và sự tham gia thực chất của phụ nữ dân tộc thiểu số là điều kiện quan trọng để xây dựng xã hội công bằng, bao trùm và phát triển bền vững.
Phụ nữ dân tộc thiểu số và miền núi thường gặp khó khăn trong tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực và thụ hưởng lợi ích phát triển. Cơ hội tham gia quá trình ra quyết định về kinh tế - xã hội của họ cũng còn hạn chế. Vì vậy, nâng cao vị thế của phụ nữ cần gắn với việc tạo điều kiện để họ tiếp cận giáo dục, nâng cao năng lực và chủ động lựa chọn hướng phát triển phù hợp.
Dù nhiều chính sách và chương trình thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số đã được triển khai, song PGS.TS Dương Kim Anh nhận thấy, quá trình thực vẫn gặp không ít trở ngại.
Một trong những nguyên nhân là định kiến giới và quan niệm truyền thống về vai trò của phụ nữ. Tư tưởng trọng nam, khinh nữ và sự phân công lao động theo giới vẫn tồn tại ở một số cộng đồng.
Giáo dục nghề nghiệp gắn với sinh kế bền vững

Hỗ trợ thông tin và sinh kế giúp phụ nữ dân tộc thiểu số thoát nghèo. Ảnh: Vietnam.net
Dẫn các nghiên cứu về phụ nữ người H'Mông tại Lào Cai, Đại tá Nguyễn Thị Thuần - Học viện Khoa học Quân sự - cho hay, phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong duy trì đời sống gia đình và cộng đồng.
Họ đảm nhiệm nhiều công việc như nấu ăn, chăn nuôi, canh tác nương rẫy, dệt vải, chăm sóc gia đình, đồng thời nuôi dưỡng, giáo dục con cái và truyền dạy ngôn ngữ, văn hóa truyền thống.
Tuy đóng góp lớn, vị thế của phụ nữ vẫn bị hạn chế so với nam giới. Họ còn gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, bày tỏ quan điểm về các vấn đề cộng đồng và thực hiện quyền tự chủ trong hôn nhân. Việc tiếp cận dịch vụ công cũng là một thách thức; một số người có xu hướng im lặng trước hành vi bạo lực hoặc phân biệt đối xử.
Thực tế này cho thấy, phát huy vai trò của phụ nữ không thể chỉ dừng ở tuyên truyền nâng cao nhận thức. Cần tạo điều kiện để họ có kiến thức, kỹ năng, cơ hội việc làm và khả năng tham gia vào các quyết định liên quan đến cuộc sống của mình.
Từ những vấn đề đặt ra, giáo dục nghề nghiệp cần được quan tâm như một hướng hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số nâng cao năng lực và cải thiện sinh kế. Việc học nghề không chỉ giúp người học bổ sung kiến thức, kỹ năng mà còn mở rộng khả năng tham gia thị trường lao động, phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập.
Để phát huy hiệu quả, hoạt động đào tạo cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của phụ nữ và điều kiện kinh tế - xã hội tại từng địa phương. Nội dung đào tạo nên gắn với sinh kế hiện có, thế mạnh sản xuất và cơ hội phát triển kinh tế của cộng đồng. Đồng thời, cần chú trọng kỹ năng quản lý, tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường và ứng dụng công nghệ phù hợp.
Bên cạnh đào tạo nghề, việc hỗ trợ phụ nữ phát triển mô hình kinh tế, kết nối tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận các nguồn lực cần được triển khai đồng bộ. Đây là những yếu tố giúp kiến thức, kỹ năng được chuyển hóa thành cơ hội việc làm và thu nhập ổn định. Việc lựa chọn mô hình cần phù hợp với điều kiện địa phương, tránh triển khai dàn trải hoặc phụ thuộc vào hỗ trợ ngắn hạn.
Quá trình này cũng cần tính đến những rào cản mà phụ nữ đang đối mặt, từ ngôn ngữ, điều kiện đi lại đến trách nhiệm chăm sóc gia đình. Hình thức đào tạo linh hoạt, phương pháp truyền đạt phù hợp với người học và sự tham gia của các tổ chức tại cơ sở có thể góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và duy trì việc học.
Quan trọng hơn, nâng cao năng lực kinh tế cần đi đôi với tăng cường tiếng nói của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng. Khi có kiến thức, kỹ năng và nguồn thu nhập, phụ nữ có thêm điều kiện chủ động lựa chọn sinh kế, tham gia quyết định và đóng góp vào các hoạt động phát triển tại địa phương.
Theo các chuyên gia và nhà nghiên cứu, mô hình và sáng kiến đang được triển khai ở nhiều địa phương. Các chuyên gia cũng đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ những rào cản, nâng cao hiệu quả tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
