Nâng cao năng lực tự chủ, chuyển đổi xanh

Trước những biến động khó lường của thị trường, ngành phân bón Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam Phùng Hà cho biết, thời gian qua, những biến động của thị trường thế giới đã tác động mạnh đến sự phát triển của lĩnh vực phân bón trong nước.

Kho sản phẩm phân đạm ure Phú Mỹ của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo). (Ảnh: TTXVN)

Kho sản phẩm phân đạm ure Phú Mỹ của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo). (Ảnh: TTXVN)

Ngành hàng này đang đứng trước nhiều thách thức, nhất là về biến động giá nguyên liệu, năng lượng, áp lực cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu. Cùng với đó là rủi ro bị đứt gãy chuỗi cung ứng, logistics, cũng như các yêu cầu ngày càng khắt khe về chuyển đổi xanh và giảm phát thải.

Phó Viện trưởng Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường Nguyễn Anh Phong cho biết, nhu cầu sử dụng phân bón ở Việt Nam khoảng 11 triệu tấn, trong khi năng lực sản xuất chỉ đạt khoảng 8 triệu tấn/năm. Hiện nay, nước ta vẫn phải nhập khẩu nhiều loại phân bón và một lượng lớn nguyên liệu đầu vào sản xuất phân bón từ một số thị trường chính như: Trung Quốc, Nga, Lào, Hàn Quốc. Điều này khiến nguồn cung trong nước dễ chịu tác động khi giá nguyên liệu, năng lượng, tỷ giá, chi phí vận tải hoặc tình hình địa chính trị quốc tế biến động.

Hiện nay, nước ta vẫn phải nhập khẩu nhiều loại phân bón và một lượng lớn nguyên liệu đầu vào sản xuất phân bón từ một số thị trường chính như: Trung Quốc, Nga, Lào, Hàn Quốc. Điều này khiến nguồn cung trong nước dễ chịu tác động khi giá nguyên liệu, năng lượng, tỷ giá, chi phí vận tải hoặc tình hình địa chính trị quốc tế biến động.

Phó Viện trưởng Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường Nguyễn Anh Phong

Theo Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Cà Mau (PVCFC) Nguyễn Thị Hiền, các loại nguyên liệu và chủng loại phân bón chiến lược như lưu huỳnh, phân SA, MAP, SOP... cùng một số nguyên liệu phục vụ sản xuất NPK chất lượng cao hiện đều phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Điển hình như mặt hàng phân kali, với nhu cầu khoảng 0,9-1,1 triệu tấn/năm, Việt Nam đang phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn cung từ Canada, Nga, Belarus, Lào và Israel.

Do đó, bất kỳ biến động nào tại các thị trường trọng điểm nêu trên đều tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất trong nước. Chưa kể, toàn ngành còn đang đứng trước áp lực chuyển đổi xanh với các yêu cầu ngày càng khắt khe về giảm phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững. Mặt khác, biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp mà còn làm thay đổi cơ cấu cây trồng và nhu cầu phân bón dài hạn.

Việc chủ động xây dựng chiến lược mới nhằm nâng cao năng lực tự chủ và sức chống chịu cho ngành phân bón đang trở nên cấp thiết.

Theo bà Hiền, ngành phân bón Việt Nam cần tập trung vào năm trụ cột chiến lược, bao gồm: nâng cao năng lực tự chủ và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng phân bón; thúc đẩy đổi mới công nghệ và phát triển phân bón xanh; phát triển hệ sinh thái dữ liệu, dự báo và cảnh báo sớm; tăng cường liên kết giữa ngành phân bón và chuỗi giá trị nông nghiệp; nâng cao năng lực quản trị và hội nhập quốc tế.

Để làm được điều này, các cơ chế, chính sách cần hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp, trọng tâm là đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, tăng cường năng lực dự trữ chiến lược, khuyến khích đầu tư vào các khâu còn phụ thuộc nhập khẩu và nâng cao khả năng ứng phó các biến động bất thường của thị trường quốc tế; xây dựng các cơ chế hỗ trợ phù hợp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phát thải trong sản xuất phân bón...

Phó Viện trưởng Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường Nguyễn Anh Phong cho rằng, ngành phân bón cần đẩy mạnh đổi mới, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Tăng cường nghiên cứu và phát triển các sản phẩm phân bón có nguồn gốc tự nhiên, phân bón hữu cơ, vi sinh, từ phụ phẩm trồng trọt, chất thải chăn nuôi và phụ phẩm sau thu hoạch. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận sản phẩm và mô hình liên kết giữa trang trại-hợp tác xã-doanh nghiệp phân bón.

Cùng với đó, các đơn vị liên quan phải theo dõi chặt mức độ phụ thuộc vào các nguồn cung lớn, từ đó thiết lập cơ chế cảnh báo sớm về giá, tồn kho, tiến độ nhập khẩu, chính sách xuất khẩu của nước cung cấp và rủi ro logistics. Song song với đó, doanh nghiệp cần được khuyến khích đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, ký hợp đồng dài hạn và hình thành dự trữ thương mại theo mùa vụ; phát triển kho trung chuyển phân bón tại các vùng sản xuất trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền trung…

ANH THƯ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nang-cao-nang-luc-tu-chu-chuyen-doi-xanh-post975862.html