Nâng giá trị nông sản từ lợi thế địa phương
Khai thác điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng để lựa chọn cây trồng phù hợp, từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, đầu tư chế biến và xây dựng thương hiệu, người dân, hợp tác xã tại xã Minh Tâm đang tìm hướng nâng cao giá trị nông sản. Để các mô hình phát triển bền vững, địa phương tiếp tục đặt ra yêu cầu tổ chức sản xuất gắn với vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.
Trên diện tích khoảng 3.000 m², gia đình ông Ma Văn Lê, xóm Đông Sơn đầu tư hệ thống giàn và tưới nước tự động đến từng hàng cây, giúp giảm công lao động, duy trì độ ẩm phù hợp. Dưới tán lá, những chùm nho to, tròn, căng mọng được theo dõi, chăm sóc kỹ lưỡng. Gia đình sử dụng phân chuồng bón gốc kết hợp phân NPK theo từng giai đoạn sinh trưởng, thực hiện cắt tỉa và bao quả nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.
Năm 2020, sau khi tìm hiểu kỹ thuật, gia đình đưa giống nho Hạ đen về trồng thử nghiệm. Nhận thấy cây phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu địa phương, gia đình ông từng bước mở rộng quy mô. Hiện khu vườn có khoảng 500 gốc nho, trong đó hơn 200 gốc nho sữa Hàn Quốc được đưa về từ Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang. Giống nho sữa được trồng từ năm 2025, đến năm thứ 2 bắt đầu cho thu hoạch.
Bình quân mỗi gốc nho sữa cho khoảng 5 kg quả, với hơn 200 gốc đang cho thu hoạch, doanh thu từ nho sữa ước đạt khoảng 230 triệu đồng/vụ, chưa trừ chi phí giống, hệ thống giàn, tưới nước, phân bón, bao quả và công chăm sóc. Do giống nho sữa mới bước vào vụ thu hoạch đầu tiên, gia đình tiếp tục theo dõi năng suất, chất lượng và khả năng tiêu thụ trước khi tính toán mở rộng quy mô.
Tuy nhiên, cây nho đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn, kỹ thuật chăm sóc thường xuyên, trong khi thời gian bảo quản quả tươi ngắn và giá bán phụ thuộc vào thời điểm thu hoạch, chất lượng, mẫu mã cũng như sức mua của thị trường. Đặc biệt, giống nho sữa mới bước sang năm thứ 2, số lượng cây cho quả và năng suất giữa các gốc chưa đồng đều.

Gia đình ông Ma Văn Lê, xóm Đông Sơn, xã Minh Tâm chăm sóc vườn nho sữa.
Nếu cây nho mở ra hướng chuyển đổi mới thì dong riềng là cây trồng đã gắn bó từ lâu với nhiều hộ dân trên địa bàn xã Minh Tâm. Từ nguồn nguyên liệu sẵn có, Hợp tác xã Nông sản Tân Việt Á đầu tư sản xuất miến dong, từng bước chuyển từ tiêu thụ nguyên liệu thô sang chế biến sản phẩm hàng hóa có thương hiệu.
Miến dong Tân Việt Á được công nhận sản phẩm OCOP 4 sao. Để duy trì chất lượng, hợp tác xã kiểm soát nguyên liệu đầu vào, sử dụng 100% tinh bột dong riềng tại địa phương và nguồn nước sạch trong quá trình sản xuất. Sản phẩm không sử dụng hóa chất, chất bảo quản hay phụ gia.
Dong riềng sau khi thu mua được đưa qua các công đoạn nghiền, lọc tinh bột, ép và tạo sợi bằng hệ thống máy móc. Việc đầu tư thiết bị giúp giảm bớt các công đoạn thủ công, nâng cao năng suất và tạo độ đồng đều cho sản phẩm. Sau khi ép thành sợi, miến được phơi theo phương pháp truyền thống để giữ màu sắc tự nhiên, độ dai và hương vị đặc trưng.
Mỗi năm, hợp tác xã cung ứng ra thị trường hàng chục tấn miến dong, tạo việc làm thường xuyên cho gần 10 lao động địa phương. Sản phẩm có giá bán từ 110 - 150 nghìn đồng/kg, được phân phối tại nhiều tỉnh, thành phố thông qua hệ thống đại lý và cửa hàng kinh doanh nông sản sạch.
Đầu năm 2025, những lô miến dong đầu tiên của hợp tác xã được xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Dù số lượng bước đầu chưa lớn, việc tiếp cận thị trường nước ngoài cho thấy khả năng nâng cao giá trị nông sản địa phương khi sản phẩm được đầu tư chế biến, kiểm soát chất lượng, xây dựng bao bì và nhãn hiệu.
Để duy trì đơn hàng ổn định, hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ pháp lý, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm thành phần và chất lượng đồng đều giữa các lô sản phẩm. Khả năng cung ứng đủ số lượng, đúng thời gian phụ thuộc trực tiếp vào quy mô và chất lượng vùng nguyên liệu dong riềng.

Sản phẩm miến dong Tân Việt Á được trưng bày, giới thiệu tại hội chợ xúc tiến thương mại.
Giám đốc Hợp tác xã Nông sản Tân Việt Á Trần Đức Hiếu cho biết: Khó khăn hiện nay là việc tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi để mở rộng sản xuất, đầu tư nhà xưởng, thiết bị; kinh phí kiểm nghiệm, phân tích sản phẩm và tham gia các chương trình xúc tiến thương mại. Hợp tác xã mong muốn được kết nối với những doanh nghiệp thu mua lớn để xây dựng các hợp đồng tiêu thụ ổn định, lâu dài. Chế biến là khâu quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, nhưng muốn phát triển bền vững phải có vùng nguyên liệu ổn định. Người trồng cần được hướng dẫn về giống, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch; hợp tác xã xây dựng tiêu chuẩn thu mua rõ ràng, hình thành mối liên kết lâu dài với các hộ cung cấp nguyên liệu.
Hiện xã Minh Tâm có 2 sản phẩm OCOP: miến dong Tân Việt Á, mật ong Đoàn Linh. Đối với sản phẩm nho Hạ đen, địa phương tiếp tục hỗ trợ chủ thể hoàn thiện các điều kiện về chất lượng, bao bì, nhãn hiệu và truy xuất nguồn gốc.
Chủ tịch UBND xã Minh Tâm Ngân Văn Kiện cho biết: Địa phương xác định phát triển nông nghiệp, nhất là các sản phẩm đặc trưng, là một trong những hướng quan trọng để nâng cao thu nhập cho người dân. Xã tiếp tục quảng bá, giới thiệu và mở rộng thị trường đối với các sản phẩm OCOP; khuyến khích người dân phát triển mô hình trồng nho Hạ đen trên cơ sở phù hợp với điều kiện đất đai, kỹ thuật và nhu cầu tiêu thụ.
Cùng với hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bao bì và truy xuất nguồn gốc, xã định hướng phối hợp với các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân nâng cao kỹ thuật sản xuất, từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng như OCOP, VietGAP. Chú trọng kết nối đầu ra, tạo điều kiện để người dân, hợp tác xã tiếp cận các chương trình hỗ trợ, từng bước nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường.
Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/nang-gia-tri-nong-san-tu-loi-the-dia-phuong-3191034.html












