Năng lực cạnh tranh mới của ngành gỗ
Năng lực cạnh tranh của ngành gỗ trong thời gian tới nằm ở khả năng bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.
Thị trường ngày càng thắt chặt yêu cầu
Ngành gỗ và nội thất đã vươn lên trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu lâm sản đạt kỷ lục hơn 18,3 tỷ USD vào năm ngoái.
Con số này đóng góp tới 30% tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp, theo dữ liệu từ Cục Lâm nghiệp và kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và môi trường.
Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới với dư địa phát triển còn lớn.
Dù vậy, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ & chế biến gỗ TP.HCM (Hawa), lưu ý rằng, bối cảnh thế giới đang bước vào một giai đoạn mà yêu cầu của thị trường quốc tế không chỉ dừng lại ở chất lượng, giá cả hay năng lực sản xuất.
“Thế giới ngày càng nhấn mạnh đến tính hợp pháp của nguồn gỗ, khả năng truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ rừng, trách nhiệm môi trường - xã hội và phát triển bền vững trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Điều đó cho thấy phát triển bền vững không còn là một lựa chọn”, ông Mẫn nhấn mạnh tại Hội thảo chuyên đề Lâm nghiệp và phát triển bền vững ngành gỗ - nội thất ASEAN mới đây.
Đơn cử, Liên minh châu Âu (EU) đã áp dụng Quy định chống phá rừng (EUDR), yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm không gây phá rừng sau ngày 31/12/2020 và cung cấp tọa độ GPS tới từng lô rừng.
Không chỉ vậy, EU còn thực hiện cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, dự kiến mở rộng sang hàng lâm sản từ 2026 - 2034.
Trong khi đó, Hoa Kỳ thực thi Đạo luật Lacey và Thỏa thuận 301 về cấm nhập khẩu lâm sản bất hợp pháp, điều tra Mục 232 nhập khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ và sản phẩm phái sinh.
Nhật Bản và Úc cũng thắt chặt các quy định như yêu cầu xác minh nguồn gỗ hợp pháp cho hàng nhập khẩu, kiểm soát chặt gỗ nhập khẩu từ nguồn có nguy cơ bất hợp pháp.
Sự thay đổi trong yêu cầu cạnh tranh của thị trường toàn cầu cũng được ông Nguyễn Văn Diện, Phó cục trưởng Cục Lâm nghiệp và kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và môi trường nhấn mạnh dưới góc độ quản lý nhà nước.
Vị này cho rằng, trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt các quy định về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh của ngành gỗ không chỉ được quyết định bởi năng lực sản xuất mà còn bởi khả năng bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.

Thế giới ngày càng nhấn mạnh đến tính hợp pháp của nguồn gỗ. Ảnh: Hoàng Anh
Thêm lực đẩy cho ngành gỗ
Đứng trước các yêu cầu ngày càng cao hơn của thị trường, năng lực đáp ứng của chuỗi sản xuất trong nước đang bộc lộ nhiều vấn đề.
Theo dữ liệu của Cục Lâm nghiệp và kiểm lâm, mã số rừng trồng sản xuất hiện mới chỉ thí điểm khoảng 25.500ha tại 5 tỉnh phía Bắc, diện tích còn rất khiêm tốn so với gần 4,9 triệu ha rừng trồng toàn quốc. Ước tính cần khoảng 2 – 3 năm nữa để phủ rộng trong khi EUDR đã có hiệu lực.
Hiện chỉ có khoảng 1/3 doanh nghiệp và tổ chức kinh tế hoàn thành phương án quản lý rừng bền vững, nguyên nhân đến từ thiếu kỹ thuật, chi phí cao (50 – 200 triệu đồng/ phương án).
Bên cạnh đó, việc bãi bỏ cấp huyện tạo khoảng trống tạm thời trong thủ tục xác nhận nguồn gốc gỗ, kiểm tra lâm sản.
Cục Lâm nghiệp và kiểm lâm cho biết cơ quan này sẽ phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn "sản phẩm gỗ sơ chế thông thường" (dăm gỗ, ván bóc, gỗ xẻ...) theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP tháo gỡ ách tắc hoàn thuế VAT cho các doanh nghiệp; ban hành Kế hoạch quốc gia triển khai mã số rừng trồng 2026 - 2030 với lộ trình, mục tiêu định lượng và nguồn lực cụ thể cho từng tỉnh.
Đồng thời, mở rộng thí điểm mã số rừng trồng ra 15 - 20 tỉnh trọng điểm trong 2026; cung cấp thiết bị GPS và tập huấn cho kiểm lâm xã và chủ rừng nhỏ.
Ngoài ra, việc hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực ASEAN được xem là một trong những giải pháp khả thi.
Tại hội thảo, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia cao cấp của tổ chức Forest Trends, đánh giá, mặc dù các quốc gia ASEAN có mối quan hệ hợp tác chính trị - xã hội mật thiết, kim ngạch thương mại hai chiều về gỗ và lâm sản nội khối hiện nay mới đạt chưa đầy 1 tỷ USD mỗi năm.
Con số khiêm tốn này là minh chứng cho thấy tiềm năng hợp tác kinh tế và bổ trợ chuỗi cung ứng giữa các nước thành viên vẫn chưa được khai phá đúng tầm vóc, càng làm tăng tính cấp bách của việc thực thi các định hướng liên kết liên vùng.
Thay vì đứng riêng lẻ, các quốc gia trong khối cần khẩn trương đẩy mạnh liên kết liên vùng, tập trung tối ưu hóa nguồn nguyên liệu đầu vào bền vững, cộng hưởng năng lực công nghệ để tạo ra các sản phẩm đầu ra có giá trị gia tăng cao, từ đó thiết lập một liên minh vững chắc cùng nhau chiếm lĩnh và đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường tiêu thụ chiến lược như Hoa Kỳ và EU.
Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/nang-luc-canh-tranh-moi-cua-nganh-go-d46503.html













