Năng lực chuyển đổi: Điều kiện để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không đơn thuần là nâng cao tốc độ tăng trưởng, mà là quá trình chuyển đổi về chất của nền kinh tế.

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không đơn thuần là đạt tới một mức thu nhập cao hơn, mà phải xây dựng được nền tảng năng lực đủ mạnh để duy trì vị thế phát triển đó.
Việt Nam đã bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Vì vậy, chặng đường phía trước đặt ra những yêu cầu phát triển khác về chất so với các giai đoạn trước đây. Những lợi thế từng tạo nên tốc độ tăng trưởng cao vẫn còn giá trị, nhưng khả năng tiếp tục dựa vào chúng để duy trì quỹ đạo phát triển dài hạn đang thu hẹp.
Khi nền kinh tế bước lên nấc thang phát triển cao hơn, năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ quyết định khả năng tạo ra giá trị mới.
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không chỉ là câu chuyện về nâng cao mức thu nhập. Quan trọng hơn, đó là quá trình thay đổi nền tảng tạo ra thu nhập và của cải quốc gia.
Muốn bước vào nhóm quốc gia có thu nhập cao, nền kinh tế phải hình thành những năng lực mà trước đây chưa có, đồng thời phát triển chúng đủ mạnh để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tiếp tục mở rộng những gì đang có có thể giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng, nhưng để chuyển sang trình độ phát triển mới, Việt Nam phải tạo ra những giá trị, năng lực và lợi thế cạnh tranh mới. Đây chính là nội hàm của năng lực chuyển đổi: khả năng chủ động thay đổi nền tảng tăng trưởng trước khi những giới hạn của mô hình cũ trở thành lực cản đối với phát triển.
Từ tích lũy nguồn lực đến nâng cao năng suất
Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, tăng trưởng thường gắn với khả năng huy động và phân bổ nguồn lực, như lao động, vốn đầu tư, đất đai, hạ tầng, mở cửa thị trường và thu hút nguồn lực từ bên ngoài.
Lợi thế về chi phí, vị trí địa kinh tế và khả năng nhanh chóng tham gia các chuỗi sản xuất khu vực đã giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều thập kỷ.
Những lợi thế này vẫn cần thiết, nhưng khi quy mô nền kinh tế lớn hơn, trình độ phát triển cao hơn, vấn đề quan trọng không chỉ là huy động được bao nhiêu nguồn lực, mà phải là mỗi đơn vị nguồn lực tạo ra bao nhiêu giá trị.
Đây là giai đoạn năng suất trở thành vấn đề trung tâm của tăng trưởng. Vốn được đầu tư vào đâu, lao động được sử dụng trong lĩnh vực nào, công nghệ được ứng dụng ra sao, hạ tầng được khai thác hiệu quả đến mức nào đều ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng nền kinh tế tạo ra. Nguồn lực vẫn là điều kiện cần, nhưng năng suất quyết định hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành giá trị.
Vì vậy, nâng cao năng suất không chỉ là yêu cầu đối với từng doanh nghiệp hay người lao động. Năng suất là kết quả tổng hợp của chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, năng lực quản trị, chất lượng thể chế, mức độ cạnh tranh, khả năng đổi mới, hiệu quả phân bổ nguồn lực trong toàn nền kinh tế.
Nền kinh tế có thể đầu tư nhiều hơn nhưng chưa chắc tạo ra năng lực sản xuất cao hơn nếu vốn không được phân bổ vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị lớn. Công nghệ mới có thể được đưa vào sản xuất nhưng chưa chắc nâng cao năng suất nếu doanh nghiệp thiếu khả năng sử dụng hiệu quả, làm chủ và cải tiến công nghệ. Số lượng lao động được đào tạo có thể tăng nhưng năng suất vẫn hạn chế nếu kỹ năng không phù hợp với nhu cầu phát triển.
Do đó, vấn đề không phải là lựa chọn giữa nguồn lực và năng suất. Năng suất chính là thước đo hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành giá trị; năng lực phát triển quyết định khả năng duy trì, nâng cao hiệu quả đó trong dài hạn.
Năng suất không phải là yếu tố tách rời khỏi năng lực của nền kinh tế. Doanh nghiệp có năng suất cao thường gắn với quản trị tốt, công nghệ phù hợp, tổ chức sản xuất hiệu quả và khả năng đổi mới. Ngành, lĩnh vực có năng suất cao thường có nguồn nhân lực chất lượng, hạ tầng đồng bộ, thị trường cạnh tranh và hệ sinh thái phát triển thuận lợi. Quốc gia có năng suất cao thường có khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện để những năng lực mới liên tục hình thành.
Vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới, mỗi quyết định đầu tư, đào tạo, đổi mới công nghệ, cải cách thể chế cần được đánh giá không chỉ qua quy mô nguồn lực được huy động, mà phải qua năng lực sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh được tạo ra. Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy tăng trưởng: từ quan tâm chủ yếu đến lượng nguồn lực được huy động sang chú trọng khả năng biến nguồn lực thành giá trị và năng lực phát triển lâu dài.
Năng lực chuyển đổi quyết định khả năng thoát bẫy thu nhập trung bình
Nếu năng suất phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực và trình độ phát triển của nền kinh tế, thì năng lực chuyển đổi quyết định khả năng hình thành những nền tảng phát triển mới. Đây là một trong những thách thức khó nhất của quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Các nhà quản lý có thể nhận biết khá rõ những vấn đề cần thay đổi, nhưng nhận biết vấn đề không đồng nghĩa với có khả năng thực hiện thay đổi. Khoảng cách giữa việc nhận biết cần thay đổi và thực sự tạo ra thay đổi là một trong những rào cản lớn của phát triển.
Năng lực chuyển đổi trước hết bắt đầu từ khả năng nhận biết những thay đổi của môi trường phát triển, nhận diện giới hạn của mô hình hiện tại và chủ động điều chỉnh trước khi những giới hạn đó trở thành lực cản. Quốc gia có năng lực chuyển đổi không chờ đến khi động lực tăng trưởng suy giảm rõ rệt mới tìm kiếm động lực thay thế, mà phải chuẩn bị những nền tảng mới ngay khi nhận thấy các lợi thế hiện tại đang dần thu hẹp. Điều này đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Những lợi thế về lao động, chi phí, mở cửa thương mại, thu hút đầu tư và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đã tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng. Nhưng thành công cũng có thể tạo ra bẫy quán tính phát triển: những phương thức từng hiệu quả dễ tiếp tục được sử dụng ngay cả khi điều kiện phát triển đã thay đổi.
Vượt qua bẫy quán tính phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh đồng bộ trong tư duy phát triển, thể chế, mô hình sản xuất, phương thức quản trị, ứng dụng công nghệ và phân bổ nguồn lực.
Nếu nguồn lực vẫn chủ yếu chảy vào những khu vực có khả năng tạo ra kết quả trước mắt nhưng hiệu quả sử dụng và tiềm năng tăng năng suất dài hạn thấp, nền kinh tế vẫn có tăng trưởng nhưng khó tạo ra bước chuyển về chất. Ngược lại, nếu nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn vào các ngành, lĩnh vực có năng suất cao, công nghệ tiên tiến và khả năng cạnh tranh quốc tế, quá trình chuyển dịch cơ cấu sẽ tạo thêm động lực tăng trưởng.
Vì vậy, năng lực chuyển đổi không chỉ là khả năng thay đổi công nghệ, mà còn là khả năng thay đổi phương thức nền kinh tế tạo ra giá trị. Trong công nghiệp, đó là quá trình chuyển từ gia công, lắp ráp sang các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Trong doanh nghiệp, đó là chuyển từ cạnh tranh chủ yếu bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ, thương hiệu và đổi mới. Trong phát triển nguồn nhân lực, đó là chuyển từ lợi thế về số lượng lao động sang khả năng tạo ra giá trị cao. Trong quản trị quốc gia, đó là chuyển từ xử lý những vấn đề hiện tại sang chủ động kiến tạo môi trường để những năng lực mới hình thành và phát triển.
Nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong nhiều năm nhờ các động lực sẵn có nhưng không tạo được năng lực chuyển đổi tương xứng. Khi những động lực đó suy giảm, khả năng duy trì tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc nền kinh tế có kịp hình thành các động lực mới hay không. Vì thế, năng lực chuyển đổi phải trở thành năng lực thường trực của nền kinh tế, chứ không chỉ là phản ứng trước những khó khăn nhất thời.
Thước đo năng lực chuyển đổi không phải là số lượng chính sách đã ban hành, công nghệ đã ứng dụng hay chương trình đã triển khai. Điều quan trọng hơn là sau mỗi giai đoạn phát triển, nền kinh tế đã hình thành được những năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị và cạnh tranh mới nào. Với cách tiếp cận đó, vượt qua bẫy thu nhập trung bình chính là quá trình chuyển đổi năng lực phát triển của quốc gia.
Từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng lực
Trong nhiều thập kỷ qua, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam gắn với nguồn lao động dồi dào, chi phí tương đối thấp, khả năng thu hút đầu tư và mức độ hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Những lợi thế này đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến quan trọng của các dòng vốn đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
Tuy nhiên, lợi thế chi phí có giới hạn. Khi thu nhập tăng, tiền lương và các chi phí sản xuất khác tăng lên, trong khi những quốc gia khác có thể cung cấp điều kiện sản xuất tương tự với chi phí thấp hơn, lợi thế này sẽ dần suy giảm. Nếu không kịp tạo ra những lợi thế mới, thành công của giai đoạn trước có thể trở thành giới hạn của giai đoạn tiếp theo. Vì vậy, Việt Nam cần sử dụng những lợi thế hiện có làm bàn đạp để hình thành lợi thế cạnh tranh ở trình độ cao hơn.
Lợi thế chi phí có thể giúp doanh nghiệp được lựa chọn, nhưng lợi thế năng lực mới quyết định khả năng doanh nghiệp trụ vững, phát triển và tiến lên trong chuỗi giá trị.
Lợi thế năng lực được tạo nên bởi năng suất, công nghệ, chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị, khả năng đổi mới, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Điều này càng quan trọng trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng. Việt Nam cần tiếp tục thu hút hoạt động sản xuất của các nhà đầu tư nước ngoài và phải từng bước nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước; không chỉ tham gia chuỗi giá trị mà phải nâng vị trí trong chuỗi; không chỉ xuất khẩu nhiều hơn mà phải tạo ra giá trị gia tăng cao hơn từ mỗi sản phẩm và đơn hàng xuất khẩu.
Muốn nâng vị trí trong chuỗi giá trị, Việt Nam phải tăng khả năng tạo ra giá trị ngay trong các hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế không chỉ tiếp cận công nghệ tiên tiến mà phải từng bước hình thành năng lực công nghệ của chính mình. Có công nghệ tiên tiến không đồng nghĩa với có năng lực công nghệ. Năng lực này chỉ thực sự hình thành khi doanh nghiệp có khả năng hấp thụ, làm chủ, cải tiến và từng bước sáng tạo dựa trên công nghệ đã tiếp nhận.
Tương tự, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hay tự động hóa vào một số công đoạn không đồng nghĩa với việc hình thành lợi thế cạnh tranh mới. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng sử dụng công nghệ để thay đổi phương thức sản xuất, tổ chức lại quy trình, nâng cao năng suất, phát triển sản phẩm, hình thành mô hình kinh doanh mới. Nền kinh tế cần phát huy lợi thế hiện có, đồng thời chủ động tạo dựng lợi thế cho giai đoạn tiếp theo.
Để bước vào nhóm quốc gia phát triển có thu nhập cao, Việt Nam phải từng bước hình thành những năng lực đủ sức cạnh tranh với các nền kinh tế có trình độ phát triển cao. Đây không chỉ là mục tiêu về năng lực cạnh tranh, mà cần trở thành định hướng xuyên suốt trong đổi mới mô hình tăng trưởng và phương thức sản xuất.
Từ thu hút đầu tư đến phát triển doanh nghiệp, từ đào tạo nhân lực đến phát triển công nghệ, từ xây dựng hạ tầng đến cải cách thể chế, các nhà quản lý và hoạch định chính sách cần đặt ra câu hỏi: Chính sách này chỉ bổ sung nguồn lực hay thực sự tạo thêm năng lực cho nền kinh tế? Câu trả lời sẽ quyết định hiệu quả lâu dài của các chính sách phát triển.
Năng lực doanh nghiệp trong nước là mắt xích quyết định
Trong quá trình phát triển, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, việc làm và kết nối Việt Nam với các chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, nếu mục tiêu phát triển chuyển từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng lực, khu vực doanh nghiệp trong nước phải trở thành chủ thể lớn hơn trong chiến lược phát triển.
Hiện nay, một trong những điểm nghẽn của nền kinh tế là năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Khu vực này có số lượng lớn nhưng phần đông còn hạn chế về quy mô, năng suất, công nghệ, quản trị và khả năng tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao. Vì vậy, khoảng cách giữa mức độ hiện diện của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu và phần giá trị do doanh nghiệp trong nước thực sự tạo ra, nắm giữ vẫn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm.
Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, mà phải tạo lập môi trường để doanh nghiệp có động lực, chịu sức ép cạnh tranh cần thiết nhằm tự nâng cấp năng lực.
Doanh nghiệp là nơi trực tiếp biến công nghệ thành sản phẩm, vốn thành năng lực sản xuất, nhân lực thành năng suất và đổi mới sáng tạo thành giá trị thị trường. Vì vậy, muốn nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế, trước hết phải nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp. Điều Việt Nam cần không chỉ là số lượng doanh nghiệp lớn hơn, mà là khu vực doanh nghiệp có năng suất cao hơn, quản trị và làm chủ công nghệ tốt hơn, có khả năng cạnh tranh tại những thị trường có yêu cầu cao.
Doanh nghiệp có quy mô lớn chưa chắc đã mạnh về năng lực. Doanh nghiệp có nền tảng công nghệ, quản trị và đổi mới tốt sẽ có điều kiện mở rộng quy mô bền vững hơn. Vì vậy, chính sách phát triển doanh nghiệp cần giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư dài hạn cho năng suất và đổi mới.
Cần lưu ý, hỗ trợ không thể thay thế cạnh tranh. Khu vực doanh nghiệp chỉ thực sự nâng cao năng lực khi phải cạnh tranh để tồn tại, đổi mới để giữ thị trường và tăng năng suất để tạo ra giá trị cao hơn. Cùng với các chính sách hỗ trợ phù hợp, cần xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, giảm đặc quyền và hạn chế những cơ chế làm méo mó tín hiệu thị trường.
Hỗ trợ đúng phải giúp doanh nghiệp mạnh lên; cạnh tranh lành mạnh phải tạo động lực để doanh nghiệp tiếp tục đổi mới. Đây là những điểm cần đặc biệt lưu ý trong chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Nếu chính sách chỉ tập trung tháo gỡ khó khăn trước mắt mà chưa tạo động lực nâng cấp, doanh nghiệp có thể tồn tại nhưng khó phát triển về năng lực. Ngược lại, nếu doanh nghiệp phải cạnh tranh trong môi trường có chi phí kinh doanh cao, khả năng tiếp cận nguồn lực không bình đẳng và rủi ro chính sách lớn, họ cũng khó tích lũy để đầu tư cho tương lai.
Vì vậy, cần xây dựng hệ sinh thái trong đó doanh nghiệp vừa được tạo điều kiện phát triển, vừa chịu áp lực cạnh tranh đủ mạnh để không ngừng nâng cấp. Trong hệ sinh thái đó, khả năng hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ phải trở thành năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong nước.
Doanh nghiệp trong nước cần từng bước tham gia sâu hơn vào nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường quốc tế. Đồng thời, cần thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước để công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất, phương thức quản trị và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế được lan tỏa sâu hơn vào nền kinh tế.
Mục tiêu thu hút FDI không chỉ bổ sung vốn và mở rộng năng lực sản xuất, mà phải góp phần nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước. Muốn vậy, cần chú trọng chất lượng liên kết, khả năng phát triển nhà cung cấp trong nước, đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức, thay vì chỉ đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư qua quy mô vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu.
Để trở thành quốc gia phát triển, Việt Nam cần có những doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp tại các nền kinh tế phát triển. Vì vậy, phát triển doanh nghiệp trong nước không nên chỉ được xem là một bộ phận của chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, mà cần nâng tầm thành chiến lược xây dựng năng lực quốc gia.
Từ tăng trưởng nhanh đến tăng trưởng có khả năng tự nâng cấp
Khi nền kinh tế bước sang trình độ phát triển mới, vấn đề quan trọng không chỉ là tăng trưởng bao nhiêu phần trăm mỗi năm, mà sau mỗi giai đoạn tăng trưởng, nền kinh tế đã mạnh lên như thế nào.
Nếu tăng trưởng chủ yếu làm tăng quy mô sản xuất nhưng không đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực công nghệ, năng lực doanh nghiệp và khả năng đổi mới, nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào các động lực cũ. Ngược lại, nếu mỗi chu kỳ tăng trưởng tạo ra năng lực mới, chính tăng trưởng sẽ củng cố nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Đó là tăng trưởng có khả năng tự nâng cấp.
Mỗi giai đoạn tăng trưởng phải tạo ra mặt bằng năng lực cao hơn cho giai đoạn sau: người lao động có kỹ năng tốt hơn; doanh nghiệp có năng lực quản trị và công nghệ cao hơn; vốn được phân bổ hiệu quả hơn; sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn; vị trí của nền kinh tế trong chuỗi giá trị được nâng lên; năng lực nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo được củng cố. Khi đó, tăng trưởng không chỉ là kết quả của năng lực hiện có, mà còn trở thành nguồn tạo ra năng lực mới.
Điều này đòi hỏi thay đổi cách đánh giá chính sách phát triển. Các dự án đầu tư không chỉ được đánh giá qua số vốn giải ngân hay số công trình hoàn thành, mà còn qua năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế được tạo ra. Chương trình đào tạo được đánh giá qua số người tham gia, khả năng hình thành những kỹ năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của nền kinh tế. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được nhìn qua số doanh nghiệp thụ hưởng, khả năng giúp họ tăng năng suất, đổi mới và cải thiện sức cạnh tranh.
Đặc biệt, cải cách thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn hiện tại. Giá trị lớn hơn của cải cách là tạo lập môi trường trong đó mô hình kinh doanh mới, công nghệ mới và doanh nghiệp có năng lực cao có thể hình thành, phát triển nhanh hơn. Thể chế cần bảo đảm tính ổn định, minh bạch, khả năng dự đoán của chính sách, tạo không gian cho thử nghiệm, đổi mới và cạnh tranh. Đây là điểm gắn kết toàn bộ quá trình chuyển đổi.
Từ nguồn lực đến năng suất; từ năng suất đến năng lực; từ năng lực đến sức cạnh tranh; từ sức cạnh tranh đến thu nhập cao hơn; từ thu nhập cao hơn đến khả năng đầu tư thêm cho giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi vòng tuần hoàn này được củng cố, nền kinh tế sẽ có khả năng tự nâng cấp. Ngược lại, nếu tăng trưởng chỉ mở rộng quy mô mà không nâng cao năng lực, nền kinh tế có thể tiếp tục tăng trưởng nhưng dễ bị níu giữ bởi bẫy quán tính phát triển.
Vì vậy, mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới không chỉ duy trì tốc độ tăng cao, mà phải tạo ra những năng lực bảo đảm cho tăng trưởng trong tương lai.
Tạo năng lực của ngày mai
Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không đơn thuần là nâng cao tốc độ tăng trưởng, mà là quá trình chuyển đổi về chất của nền kinh tế: từ dựa nhiều vào lợi thế nguồn lực sang nâng cao năng suất và năng lực; từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng công nghệ, chất lượng và đổi mới; từ mở rộng quy mô sang tạo ra giá trị cao hơn.
Trong quá trình đó, năng lực chuyển đổi giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Một quốc gia có năng lực chuyển đổi khi có khả năng nhận biết sự thay đổi, nhìn thấy giới hạn của mô hình hiện tại, chủ động điều chỉnh trước khi các giới hạn trở thành lực cản và tạo ra những năng lực mà nền kinh tế trước đây chưa có.
Những năng lực mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Vì vậy, từ năng lực công nghệ, năng lực doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực đến năng lực quản trị quốc gia, đích đến cuối cùng vẫn là khả năng tạo ra giá trị cao hơn và cạnh tranh tốt hơn. Trong đó, doanh nghiệp trong nước giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nền kinh tế muốn bước vào nhóm quốc gia phát triển không thể chỉ dựa vào việc tiếp nhận năng lực từ bên ngoài. Việt Nam cần có nhiều doanh nghiệp đủ khả năng hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ, đổi mới sản phẩm, mở rộng quy mô, cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Điều đó đòi hỏi một hệ sinh thái phát triển trong đó thể chế tạo không gian cho đổi mới, thị trường tạo động lực cạnh tranh, Nhà nước kiến tạo điều kiện phát triển, doanh nghiệp là chủ thể đầu tư và đổi mới, còn nguồn nhân lực cùng khoa học, công nghệ tạo nền tảng cho năng suất.
Quan trọng hơn, mỗi giai đoạn tăng trưởng phải tạo ra mặt bằng năng lực cao hơn cho giai đoạn tiếp theo. Đây cũng là cách nhìn mới về phát triển: không chỉ hỏi nền kinh tế tăng trưởng nhanh đến đâu, mà sau mỗi chặng đường, Việt Nam đã hình thành thêm những năng lực gì mà trước đây chưa có. Vượt qua bẫy thu nhập trung bình không đơn thuần là đạt tới một mức thu nhập cao hơn, mà phải xây dựng được nền tảng năng lực đủ mạnh để duy trì vị thế phát triển đó.
Tạo ra năng lực mới không thể chỉ dựa vào quyết tâm của doanh nghiệp hay những chương trình hỗ trợ riêng lẻ. Năng lực mới chỉ có thể hình thành và phát triển khi môi trường thể chế tạo đủ không gian cho đổi mới, đủ động lực cho cạnh tranh và đủ niềm tin để các chủ thể mạnh dạn đầu tư cho tương lai. Khi đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với Việt Nam là: Thể chế nào có thể tạo lập môi trường để những năng lực mà nền kinh tế cần cho ngày mai thực sự hình thành và phát triển. Đây chính là một trong những vấn đề cốt lõi của chiến lược vượt qua bẫy thu nhập trung bình./.
Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
