Nâng tầm chính sách, phát huy vai trò người có uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Không chỉ là “điểm tựa tinh thần” của dân bản, người có uy tín còn là cầu nối quan trọng đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn và nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng này, Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định nhiều điểm mới về tiêu chí lựa chọn, công nhận cũng như chính sách đãi ngộ với người có uy tín. Phóng viên Báo Kiểm toán đã có cuộc trao đổi với TS. Bùi Văn Tuấn - Viện Hà Nội học và Đào tạo quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội xung quanh vấn đề này.

TS. Bùi Văn Tuấn - Viện Hà Nội học và Đào tạo quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội. Ảnh: TUẤN HIÊN
Thưa ông, từ góc độ nghiên cứu và thực tiễn, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của người có uy tín, tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?
Tôi cho rằng, giá trị đặc biệt của người có uy tín nằm ở sự tín nhiệm được bồi đắp trong đời sống cộng đồng. Bà con tin một người không chỉ vì tuổi tác hay chức danh, mà còn vì cách người ấy sống, ứng xử, giữ lời và giúp đỡ, hỗ trợ và có trách nhiệm với công việc chung của cộng đồng, làng bản. Vì vậy, muốn hiểu vai trò của họ, phải nhìn vào những quan hệ cụ thể trong thôn, bản, dòng họ và cộng đồng trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
Người có uy tín có thể giúp chuyển tải chính sách, pháp luật thành những lời giải thích gần gũi với kinh nghiệm và ngôn ngữ bản địa. Đồng thời, họ chuyển những băn khoăn, nguyện vọng và vướng mắc của bà con đến chính quyền. Tôi đặc biệt coi trọng chiều phản ánh này, bởi một chính sách muốn thực hiện tốt cần được người dân hiểu rõ, hiểu đúng; đồng thời chính sách cũng phải bám sát thực tiễn, phù hợp với đặc thù, điều kiện của người dân.
Trong hòa giải bản làng, lợi thế của họ là hiểu lịch sử quan hệ giữa các bên, để có cách trao đổi phù hợp. Trong phát triển kinh tế, sức thuyết phục của người có uy tín thường đến từ việc làm cụ thể: người vận động dám thử trước, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ bà con giải quyết khó khăn. Thực tiễn ở nhiều bản làng, bên cạnh chính quyền địa phương, người có uy tín đóng vai trò tích cực trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phản ánh nguyện vọng của người dân và phát triển các mô hình sinh kế.
Với các tổ chức, cá nhân tiêu biểu, tôi nhìn nhận vai trò của họ theo hướng hỗ trợ cho nhau, người có kinh nghiệm cộng đồng giúp tạo đồng thuận; nhà giáo, thầy thuốc, nghệ nhân cung cấp tri thức chuyên môn; cơ sở giáo dục, đơn vị lực lượng vũ trang và các tổ chức tại địa bàn có khả năng duy trì hoạt động lâu dài. Khi kết nối được những năng lực ấy, cộng đồng có thêm điều kiện tự giải quyết vấn đề và chủ động phát triển.
Nhằm phát huy vai trò của người có uy tín, tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín và các tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong vùng đồng bào DTTS. Theo ông, việc ban hành Nghị định có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
Nghị định số 307/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 04/8/2026, có hiệu lực từ ngày 20/9/2026. Nghị định điều chỉnh cả việc lựa chọn, công nhận, thực hiện chính sách đối với người có uy tín và chính sách động viên, biểu dương đối với một số tổ chức, cá nhân người DTTS.

Người có uy tín đóng vai trò tích cực trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phản ánh nguyện vọng của người dân và phát triển các mô hình sinh kế tại cộng đồng. Ảnh: HIÊN TUẤN
Việc ban hành Nghị định là bước thể chế hóa sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với những người đang đóng góp trực tiếp cho đời sống cộng đồng. Việc quy định đồng bộ tiêu chí, thủ tục, chính sách và trách nhiệm thực hiện tạo cơ sở để sự quan tâm ấy được thực hiện thường xuyên, có đầu mối và có trách nhiệm rõ ràng.
Về tư duy chính sách, tôi nhìn nhận đây là sự chú trọng hơn đến nguồn lực xã hội từ bên trong cộng đồng. Phát triển vùng DTTS và miền núi cần đầu tư hạ tầng, dịch vụ và sinh kế, đồng thời cần những người có khả năng tập hợp, kết nối, tạo sự tin cậy và giúp cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển. Những nguồn lực đó có sẵn trong đời sống xã hội, nhưng muốn phát huy phải được nhận diện và hỗ trợ phù hợp.
Đặc biệt, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng được thể hiện rõ nét. Khi địa bàn cấp xã mở rộng, có nơi bao gồm nhiều cộng đồng với ngôn ngữ, tập quán và điều kiện đi lại khác nhau, chính quyền cần nhiều phương thức để tiếp cận từng thôn, bản. Người có uy tín có thể giúp phát hiện sớm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc của người dân như: Bà con chưa hiểu thủ tục ở điểm nào, một phương án hỗ trợ sinh kế chưa phù hợp ra sao, hay mâu thuẫn nào đang có nguy cơ kéo dài.
Tuy nhiên, họ cần có đầu mối để phản ánh và được thông báo kết quả xử lý. Nếu chỉ giao nhiệm vụ tuyên truyền mà thiếu cơ chế lắng nghe, chúng ta chưa phát huy hết giá trị của họ.
Nghị định cũng quy định tiêu chí không phân biệt tôn giáo, đồng thời xác định chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận là một nhóm có thể được lựa chọn. Từ góc nhìn văn hóa, điều này mở thêm điều kiện để kết nối những quan hệ tín nhiệm trong cộng đồng có đạo, trên cơ sở tôn trọng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và cùng hướng tới lợi ích chung.
Một điểm đáng chú ý là Nghị định số 307/2026/NĐ-CP đã bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ mới cho người có uy tín; quy định chính sách thăm hỏi, tặng quà, động viên, biểu dương đối với các tổ chức, cá nhân người DTTS tiêu biểu… Theo ông, những chính sách này có thể tác động như thế nào đến việc phát huy mạng lưới các lực lượng tiêu biểu trong cộng đồng?
Theo tôi, các chính sách này có thể tạo tác động ở một số phương diện: hỗ trợ điều kiện tham gia, nâng cao năng lực và kết nối thêm những lực lượng có đóng góp khác nhau.
Về điều kiện tham gia, sự hỗ trợ vật chất và thăm hỏi kịp thời thể hiện việc ghi nhận những đóng góp thường diễn ra âm thầm trong đời sống cộng đồng. Chẳng hạn, nghị định quy định quà dịp Tết, lễ hội truyền thống ở mức 1 triệu đồng/người/lần, tối đa ba lần mỗi năm; hỗ trợ ốm đau có mức tối đa tùy cấp khám, chữa bệnh. Như vậy, giá trị của chính sách còn nằm ở cách thực hiện đúng lúc, đúng thời điểm, đúng đối tượng và với thái độ trân trọng.
Về năng lực, việc bổ sung chính sách bồi dưỡng kỹ năng khai thác, sử dụng và xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội rất đáng chú ý. Trong môi trường số, người có uy tín cần biết kiểm tra một thông tin trước khi chia sẻ, nhận diện dấu hiệu lừa đảo và tìm nguồn hỗ trợ khi gặp vấn đề vượt quá hiểu biết của mình. Uy tín càng cao thì thông tin họ truyền đi càng cần được kiểm chứng.
Việc bổ sung chính sách đối với các nhóm tổ chức, cá nhân khác cũng có thể giúp mở rộng kết nối giữa kinh nghiệm cộng đồng, tri thức chuyên môn và năng lực tổ chức. Một nhà giáo có thể hỗ trợ vận động trẻ đến trường; một nghệ nhân có thể truyền dạy tri thức văn hóa; người sản xuất giỏi có thể chia sẻ kinh nghiệm sinh kế. Đó là những cách đưa sự ghi nhận thành đóng góp tiếp nối.
Để các chính sách từ Nghị định đi vào cuộc sống, theo ông, cần đặc biệt chú trọng những vấn đề gì trong tổ chức thực hiện?
Theo tôi, trước hết phải lựa chọn đúng người và giữ được sự tín nhiệm của cộng đồng. Cần phổ biến rõ tiêu chí, tạo điều kiện để người dân tham gia bình chọn một cách công khai, minh bạch. Việc thực hiện phải tránh biến một quá trình lựa chọn từ cộng đồng thành thủ tục hoàn thiện hồ sơ.

Cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên, hiệu quả giữa người có uy tín với chính quyền và các cơ quan chuyên môn để lan tỏa chính sách và lắng nghe tiếng nói từ cộng đồng. Ảnh: PHƯƠNG THÚY
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa người có uy tín với chính quyền và các cơ quan chuyên môn. Mỗi địa bàn nên có đầu mối rõ ràng để họ trao đổi thông tin, phản ánh vụ việc và nhận phản hồi.
Thứ ba, công tác đào tạo, tập huấn cho người có uy tín phải phù hợp với người học và vấn đề của địa phương. Nội dung cần ngắn gọn, dễ sử dụng, có trao đổi tình huống; nơi cần thiết có hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc. Với kỹ năng hòa giải, nên chú trọng lắng nghe, phân biệt thông tin đã xác minh với lời đồn, nhận biết giới hạn của hòa giải và biết chuyển vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền;
Thứ tư, cần tôn trọng tính tự quản và sự đa dạng văn hóa; không nên áp dụng một cách vận động giống nhau cho mọi cộng đồng, cũng không nên mặc định rằng người có uy tín có thể đại diện cho mọi ý kiến. Cần tạo thêm cơ hội để phụ nữ, người trẻ và những nhóm ít người được lắng nghe, tham gia trao đổi. Việc phát huy vai trò của một cá nhân cần giúp cộng đồng có tiếng nói đầy đủ hơn;
Thứ năm, cần bảo đảm kinh phí, công khai chế độ và thực hiện hỗ trợ kịp thời. Người có uy tín có thể hỗ trợ chính quyền rất nhiều, nhưng trách nhiệm giải quyết thủ tục, cung cấp dịch vụ và xử lý vụ việc vẫn thuộc cơ quan có thẩm quyền.
Cuối cùng, hiệu quả chính sách cần được đánh giá bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống của đồng bào: người dân có được lắng nghe và hỗ trợ kịp thời hơn không, những vướng mắc ở cơ sở có được giải quyết thấu tình, đạt lý không, cộng đồng có thêm điều kiện để phát triển sinh kế và gìn giữ bản sắc văn hóa không. Đó cũng là thước đo vai trò của người có uy tín trong việc kết nối người dân với chính quyền.
Điều tôi muốn nhấn mạnh là để phát huy nguồn lực này lâu dài, cần chăm lo điều kiện hoạt động, đồng thời gìn giữ nền tảng làm nên uy tín của họ - sự tín nhiệm của cộng đồng. Chính sách cần giúp người có uy tín thực hiện tốt vai trò đại diện tiếng nói, phản ánh nguyện vọng và đồng hành với người dân. Mối quan hệ tin cậy giữa người có uy tín, cộng đồng và chính quyền được bồi đắp qua cách lắng nghe, ứng xử công tâm, thực hiện những điều đã cam kết và giải quyết đến nơi đến chốn các vấn đề của đời sống. Khi người dân cảm nhận được sự tôn trọng và thấy những kiến nghị chính đáng của mình được giải quyết, niềm tin sẽ trở thành nền tảng để cộng đồng cùng tham gia, cùng chịu trách nhiệm và chủ động kiến tạo tương lai trên quê hương mình.
